vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q được ly hôn với ông Trần Văn T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23 quyển số 01/2013, do phường Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang ngày 10/12/1998 cấp cho bà Nguyễn Thị Q và ông Trần Văn T không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị QUyên ly hôn Trần Văn Tuấn"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/01/2023
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thành Danh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồi

2. Bà Trần Thị Long

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang T– Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1269/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 442/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 391/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 66/12A Tổ 9, Ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, huyện H, TPH.

Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: 66/12A Tổ 9, Ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, huyện H, TPH.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Q trình bày:

Bà Nguyễn Thị Q và ông Trần Văn T tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23 quyển số 01/2013, do Ủy ban nhân dân phường Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 10/12/1998.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng khoảng năm năm nay thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nhau về mọi mặt. Bà Q đã nhiều lần hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả. Bà Q và ông T tuy còn chung sống chung nhà với nhau nhưng không quan tâm, yêu thương gì nhau nữa. Vợ chồng mạnh ai nấy sống, cuộc sống của ai người đó tự lo.

Nhận thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng khó hàn gắn, bản thân bà Q không còn yêu thương, không còn muốn chung sống với ông T. Do đó, bà Q giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Đức Anh, sinh ngày 14/11/1999, Trần Đức Huy, sinh ngày 20/6/2002. Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

- Án phí: Bà Q tự nguyện chịu.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng mời ông T lên Tòa án để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T không đến Tòa án nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là ông Trần Văn T có địa chỉ tại 66/12A Tổ 9, Ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP.HCM nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở kiện khách quan; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà Q theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của bà Nguyễn Thị Q và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thì bà Q và ông T đã chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23 quyển số 01/2013, do phường Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 10/12/1998 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông T là hợp pháp.

Về quan hệ vợ chồng: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng khoảng năm năm nay thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nhau về mọi mặt. Bà Q đã nhiều lần hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả. Bà Q và ông T tuy còn chung sống chung nhà với nhau nhưng không quan tâm, yêu thương gì nhau nữa. Vợ chồng mạnh ai nấy sống, cuộc sống của ai người đó tự lo.

Nhận thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng khó hàn gắn, bản thân bà Q không còn yêu thương, không còn muốn chung sống với ông T. Do đó, bà Q giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T.

Xét quá trình sống chung giữa các bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiệp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T không đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên hòa giải, thể hiện ông T không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của ông và bà Q, không có thành ý muốn hàn gắn tình cảm với bà Q. Xét tình trạng mâu thuẫn giữa bà Q và ông T trầm trọng, cuộc sống chung thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, việc bà Q yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Q và ông T có 02 con chung tên Trần Đức Anh, sinh ngày 14/11/1999, Trần Đức Huy, sinh ngày 20/6/2002. Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q khai là không có. Trong quá trình làm việc tại Tòa án, ông T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có cở sở.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Q phải chịu án phí dân sự về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q được ly hôn với ông Trần Văn T.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23 quyển số 01/2013, do phường Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang ngày 10/12/1998 cấp cho bà Nguyễn Thị Q và ông Trần Văn T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Đức Anh, sinh ngày 14/11/1999, Trần Đức Huy, sinh ngày 20/6/2002. Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên Tòa án không xem xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Q phải chịu án phí dân sự về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà Q đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0014762 ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Q đã nộp đủ tiền án phí.

Thi hành án tại Cơ quan Thi Hành án có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ