- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ng - Nh"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; các Điều: 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, th…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2023. Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Khánh.
Các hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Tâm;
2. Ông Trần Tô Hiệp.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thành Huế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 80/2023/ TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXX - HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Hồng Ng, sinh năm: 1992
Địa chỉ: Thôn LM 1, xã TH, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang. (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Âu Văn Nh, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Xóm BH, xã SP, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn chị Đinh Hồng Ng trình bày như sau:
Chị và anh Âu Văn Nh có tìm hiểu nhau một thời gian, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang ngày 23/01/2017. Được hai bên gia đình đồng ý và tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi cưới chị và anh Nh sống chung cùng với gia đình bố mẹ chị tại xã TH, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang được một thời gian. Trong thời gian chị mang thai vào tháng 4 năm 2017, chị có hiện tượng tê chân không đi lại được, anh Nh không quan tâm đến chị mà bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã SP, huyện Đ sinh sống. Khi con anh, chị được 6 tháng gia đình anh Nh có nói đón chị về chăm sóc nhưng chị xin phép được ở nhà bố mẹ đẻ để tiện sinh hoạt từ đó anh Nh và gia đình không gọi điện hỏi thăm hai mẹ con chị nữa. Anh chị sống ly thân từ tháng 4 năm 2017 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng vợ chồng ly thân không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, chị cương quyết xin được ly hôn.
Về con chung: Chị Ng xác định, chị và anh Nh có 01 con chung là Âu Tuệ Lâm, sinh ngày 11/10/2017. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị Ng xác định, chị và anh Nh không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Âu Văn Nh vắng mặt tại phiên toà mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản hợp lệ. Trong quá trình giải quyết Tòa án có lấy ý kiến của mẹ đẻ anh Nh là bà Ngô Thị Thành, bà Thành trình bày như sau:
Con trai bà là anh Âu Văn Nh và chị Đinh Hồng Ng được hai bên gia đình đồng ý tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương vào năm 2017.
Sau khi kết hôn chị Ng và anh Nh ở tại gia đình bà tại xóm BH, xã SP mấy ngày, sau đó chị Ng và con trai bà về sinh sống tại gia đình chị Ng tại xã TH, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang. Một thời gian sau bà thấy anh Nh về nhà sinh sống và nói với bà là anh và chị Ng có mâu thuẫn và sống ly thân. Bà không biết rõ nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh chị. Từ khi chị Ng sinh con bà có sang thăm cháu mấy lần, bà động viên chị Ng về nhà bà sinh sống nhưng chị Ng không đồng ý.
Về con chung: Bà Thành xác định, chị Ng và anh Nh có 01 con chung là Âu Tuệ Lâm, sinh ngày 11/10/2017. Từ khi chị Ng sinh con bà có sang thăm cháu mấy lần nhưng chị Ng chưa đưa cháu Lâm sang thăm ông bà lần nào.
Về tài sản chung: Bà Thành xác định, anh Nh và chị Ng chưa có đóng góp gì trong khối tài sản của gia đình bà, bà không biết anh, chị có tài sản chung không.
Về các khoản cho vay, khoản nợ chung: Bà Thành không biết rõ chị Ng và anh Nh có cho ai vay hay vay ai tài sản gì không nhưng bà không thấy ai đến đòi nợ chị Ng, anh Nh.
Sau khi thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh Nh không đến Tòa án làm việc, chị Ng đã yêu cầu Tòa án không tiếp tục hòa giải. Vì vậy, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Trước khi chuyển sang phần nghị án, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo pháp luật tố tụng, bị đơn anh Âu Văn Nh không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng, việc cấp giao tống đạt văn bản tố tụng, việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục tố tụng, thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ng, cho chị Đinh Hồng Ng được ly hôn anh Âu Văn Nh; Về con chung: Giao cho chị Đinh Hồng Ng trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Âu Tuệ Lâm, sinh ngày 11/10/2017 cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nh do chị Ng tự nguyện không yêu cầu; Đối với tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: chị Ng xác định không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình. Bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp lấy lời khai của đương sự nên việc xét xử có sự tham gia của Kiểm sát viên theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Xét về quan hệ hôn nhân và về yêu cầu xin ly hôn của chị Ng thấy rằng:
Chị Đinh Hồng Ng và anh Âu Văn Nh quen biết và có thời gian tự nguyện tìm hiểu nhau, được đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, được sự đồng ý của hai gia đình và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Quá trình chung sống, giữa chị Ng và anh Nh nảy sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, không thể hiện quan điểm của mình. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ng cho ly hôn giữa chị Ng và anh Nh là có căn cứ.
- Về con chung: Chị Ng và anh Nh có 01 con chung là Âu Tuệ Lâm, sinh ngày 11/10/2017. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay chị có chỗ ở và công việc thu nhập ổn định khoảng 6.000.000đồng/01 tháng.
Việc giao con chung của chị Ng và anh Nh cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục phải xem xét đến điều kiện của cả hai anh chị. Xét thấy, chị Ng và anh Nh đang ở độ tuổi lao động, có thu nhập. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nh đã không thể hiện ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, cháu Lâm hiện còn nhỏ lại là con gái vì vậy cần sự chăm sóc tỉ mỉ của người mẹ. Vì vậy, cần giao con chung của chị Ng và anh Nh là Âu Tuệ Lâm, sinh ngày 11/10/2017 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Chị Ng không yêu cầu anh Nh đóng góp tiền để nuôi con chung. Cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dương nuôi con chung đối với anh Nh cho đến khi chị Ng có yêu cầu là phù hợp.
- Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị Ng xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Đinh Hồng Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; các Điều: 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Hồng Ng.
1. Về hôn nhân: Cho chị Đinh Hồng Ng được ly hôn anh Âu Văn Nh.
2. Về con chung: Giao con chung là Âu Tuệ Lâm, sinh ngày 11/10/2017 cho chị Đinh Hồng Ng trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), lao động tự túc được. Anh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Âu Văn Nh do chị Đinh Hồng Ng tự nguyên không yêu cầu.
3. Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết;
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Hồng Ng phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên lai thu số 0003093, ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Toà án nhân dân tỉnhTN; - VKSND huyện Định Hoá; - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã TH, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang; (ĐKKH số 03, ngày 23/01/2017) - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hồng Khánh |