vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 51,53,56,81,82,83,84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộ…

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thanh T. Chị Nguyễn Thanh T được ly hôn với anh Lê Ngọc T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38/2014 ngày 08/4/2014 của Ủy ban nhân dân thị Trấn M, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tran chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 51,53,56,81,82,83,84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộ…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-02-2023
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1/- Ông Trần Thành Hiệp

2/- Bà Mai Thị Thu Hà

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 583/2022/TLST–HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1987 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp Thị 1, thị Trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Lê Ngọc T, sinh năm: 1982 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai ngày 21/11/2022 nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T trình bày:

Về hôn nhân: Do tìm hiểu chị và anh Lê Ngọc T chung sống với nhau vào năm 2014, không có tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị Trấn M, Huyện C, Tỉnh An Giang vào ngày 08/4/2014. Quá trình sống hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và vợ chồng ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Ngọc T.

Về con chung: Chị và anh Thuận có 01 con chung tên Lê Ngọc Cát T sinh ngày 26/9/2014. Hiện đang sống với chị, sau khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn Anh Lê Ngọc T: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía bị đơn đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn sơ thẩm những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thanh T; Chị T được tiếp tục nuôi con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Chị Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thanh T là nguyên đơn trong vụ kiện, có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lê Ngọc T là bị đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thanh T và anh Lê Ngọc T.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh T và anh Lê Ngọc T chung sống với nhau vào năm 2014, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND Thị Trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vào ngày 08/4/2014. Do vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét về mối quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị T và anh T chung sống hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T trình bày là do bất đồng quan điểm sống và vợ chồng ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Ngọc T.

Đối với anh Lê Ngọc T qua 2 lần mời hòa giải tại tòa anh đều vắng mặt, cán bộ Tòa án có đến tận địa phương nhưng vẫn không ghi được lời khai do anh T vắng mặt. Xét thấy, thời gian ly thân từ năm 2015 cho đến nay hai bên không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ tình cảm, khả năng hàn gắn là không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thúy là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Chị T và anh T có 01 con chung tên Lê Ngọc Cát T, sinh ngày 26/9/2014. Hiện đang sống với chị, sau khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con, tại bản tự khai ngày 30/12/2022 cháu Cát T có nguyện vọng được sống với mẹ. Xét thấy từ khi ly thân đến nay cháu Cát T sống với chị T cuộc sống đã ổn định. Do đó nghĩ nên để chị Thúy được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung:không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 51,53,56,81,82,83,84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thanh T.

Chị Nguyễn Thanh T được ly hôn với anh Lê Ngọc T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38/2014 ngày 08/4/2014 của Ủy ban nhân dân thị Trấn M, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thanh T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Ngọc Cát Tường sinh ngày 26/9/2014. Anh Lê Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền tới lui, thăm nom con chung cho anh Thuận, không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004044 ngày 12/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Chị Nguyễn Thanh T và anh Lê Ngọc T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ