vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đinh Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc S. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thảo N, sinh ngày 10-01-2007 cho bà Đinh Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung là muốn được sống chung với mẹ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-5-2023
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh.

Bà Trần Thị Thi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 310/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị T, sinh năm: 1986 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Nơi đăng ký HKTT: ấp I, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở: ấp NP, xã BN, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1982 (Vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: ấp DĐ2, xã NLP, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Con chung của bà Đinh Thị T và ông Nguyễn Ngọc S là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 10-01-2007 (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi đăng ký HKTT: ấp I, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở: ấp NP, xã BN, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 13-02-2023, bản tự khai ngày 04-4-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đinh Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Ngọc S đi đến hôn nhân do tự tìm hiểu quen biết nhau, được cha mẹ hai bên chấp nhận, không có làm lễ cưới nên không có nữ trang cưới, nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NLP vào ngày 24-3-2008. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc. Đến khoảng giữa năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải mọi việc trong cuộc sống hằng ngày, dẫn đến cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Nên đã tự sống ly thân nhau từ đó cho đến nay mà không hàn gắn lại được. Nay do tình cảm vợ chồng không còn, nên bà khởi kiện xin được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc S.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Ngọc S chỉ có một con chung là cháu Nguyễn Thảo N, sinh ngày 10-01-2007, đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả: Bà xác định bà và ông Nguyễn Ngọc S quá trình chung sống không tạo lập tài sản chung, hiện nay không nợ ai, cũng không ai nợ bà và ông S, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà xác định ngoài những giấy tờ đã nộp có trong hồ sơ vụ án, bà không nộp thêm chứng cứ mới để Tòa án xem xét, không thuộc diện gia đình chính sách nào.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Đinh Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên không có lời trình bày.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc S: Từ sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng, nhưng ông S đều vắng mặt không lý do, nên Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Qua xác minh với người thân của ông S và với chính quyền địa phương ấp DĐ2, xã NLP cho biết từ trước đến nay ông S có hộ khẩu thường trú và sinh sống cùng nhà với mẹ ruột là bà Trà Thị D tại ấp DĐ2, xã NLP, huyện C, tỉnh Trà Vinh, ban ngày ông S đi làm phụ hồ, đến chiều tối mới về có mặt ở nhà; Bà D (mẹ của ông S) xác nhận có giao các văn bản tố tụng cho ông S biết việc Tòa án triệu tập ông S đến Tòa để giải quyết vụ án ly hôn với bà Đinh Thị T, nhưng do ông S bận đi làm nên không đi được. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông S đến tham dự phiên tòa xét xử vụ án lần thứ hai, nhưng ông S tiếp tục vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

* Tại đơn tự khai và yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt ngày 04-4-2023, cháu Nguyễn Thảo N trình bày: Cha mẹ của cháu là Đinh Thị T và Nguyễn Ngọc S. Từ nhỏ đến giờ cháu sống chung với mẹ đã quen. Nên khi cha mẹ ly hôn, thì nguyện vọng của cháu là muốn được sống chung với mẹ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự; Đối với bị đơn còn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Vị đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị T: Cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc S; Về con chung là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 10-01-2007 giao cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp nguyện vọng của con chung; Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T chưa có yêu cầu, nên không xem xét; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này; Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có; Ông S không có ý kiến trình bày, nên chưa có cơ sở xem xét giải quyết. Ngoài ra, Vị đề nghị nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện C nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Đinh Thị T là nguyên đơn, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T theo luật định. Đối với ông Nguyễn Ngọc S là bị đơn, đã được Tòa án nhân dân huyện C tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập nhiều lần đến tham dự các phiên làm việc tại Tòa, nhưng ông S đều vắng mặt không lý do. Ngày 08-5-2023, Tòa án triệu tập hợp lệ ông S đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông S vắng mặt không lý do. Ngày 18-5-2023, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với ông S để tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông S vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Ngọc S.

Về hôn nhân: Bà Đinh Thị T và ông Nguyễn Ngọc S xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NLP vào ngày 24-3-2008, nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc được gần 02 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do những bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, tin tưởng lẫn nhau, dẫn đến ông bà tự ý sống ly thân nhau từ năm 2010 cho đến hôm nay mà không hàn gắn lại được. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân của vợ chồng đã kéo dài, nên nay bà T cương quyết xin được ly hôn với ông S. Đối với ông S biết việc bà T xin ly hôn với ông, được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về phiên đối chất,… nhưng ông vẫn không đến Tòa, không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh tình trạng hôn nhân giữa ông với bà T có khả năng hàn gắn hạnh phúc.

Theo các Biên bản xác minh cùng ngày 20-4-2023 của Tòa án với chính quyền địa phương ấp DĐ2, xã NLP, với người thân của ông S cho biết: Sau khi kết hôn, bà T, ông S sống chung bên quê của ông S tại ấp DĐ2, xã NLP, huyện C, tuy không biết cụ thể mâu thuẫn trong cuộc sống chung giữa hai ông bà, nhưng có biết giữa vợ chồng bà T, ông S có xảy ra mâu thuẫn với nhau, rồi bà T mang theo con chung bỏ về ở bên nhà cha mẹ ruột và họ đã sống ly thân nhau hơn 13 năm nay. Về tài sản chung hay nợ chung thì tại địa phương ấp DĐ2, xã NLP không ai tranh chấp hay khiếu nại gì đối với bà T, ông S. Do bà T, ông S đã sống ly thân thời gian dài mà không hàn gắn lại được, nên đề nghị Tòa xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Tòa án đã tiến hành mời hòa giải vào các ngày 10-4-2023, 18-4-2023 để bà T, ông S có cơ hội gặp nhau trao đổi về tình trạng hôn nhân giữa hai người, nhưng ông S đều vắng mặt không lý do. Ông S không thể hiện mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà T.

Xét thấy gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách con người, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Do đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Bà T, ông S xác lập hôn nhân từ năm 2008, vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ được thời gian 02 năm. Quá trình sống chung, có những lúc chưa thống nhất về quan điểm cuộc sống, về cách ứng xử giao tiếp với nhau, đáng lẽ ra ông bà phải biết tự điều chỉnh hành vi bản thân, xử sự cho có lý, có tình, cùng góp ý, tôn trọng lẫn nhau để tìm cách giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong cuộc sống hôn nhân một cách tốt đẹp nhất, để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Nhưng khi bất hòa xảy ra, vợ, chồng không kiềm chế được hành vi và cách cư xử của bản thân, đã có những lời nói không chuẩn mực, dẫn đến cự cải, làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt và dần mất đi. Và trong hơn 13 năm sống ly thân, ông bà vẫn không thể hàn gắn lại hôn nhân.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,…”, nhưng bà T, ông S đã không thực hiện được các nghĩa vụ này với nhau. Hiện tại, ông bà mỗi người mỗi việc, sống ở hai nơi khác nhau, không còn quan tâm, cũng không liên hệ để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Từ những nhận định trên, thấy rằng đời sống chung của vợ chồng bà T, ông S đang trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nên Tòa án chấp nhận yêu cầu, cho bà T được ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà Đinh Thị T và ông Nguyễn Ngọc S có một người con chung tên Nguyễn Thảo N, sinh ngày 10-01-2007, hiện đang sống chung với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được quyền nuôi con. Tại đơn tự khai và yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt ngày 04-4-2023, con chung nêu nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ trường hợp khi giải quyết cha mẹ ly hôn. Tại các Biên bản xác minh cùng ngày 20-4-2023 của Tòa án với người thân của ông S và với chính quyền địa phương ấp DĐ2, xã NLP đều cho biết trong thời gian ông S, bà T sống ly thân thì con chung do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay. Do đó, cần xử cho bà T được quyền nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Vì bà T chưa đặt ra yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Tòa án đã giải thích theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đối với bà Đinh Thị T xác định không có tài sản chung, nên không tranh chấp; Đối với ông Nguyễn Ngọc S không có ý kiến trình bày, không tranh chấp, không cung cấp chứng cứ gì, nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

Về nợ chung phải thu, phải trả: Bà Đinh Thị T xác định không nợ ai, cũng không ai nợ chung của bà và ông S, nên không yêu cầu giải quyết; Đối với ông Nguyễn Ngọc S không có ý kiến trình bày, không tranh chấp, không cung cấp chứng cứ gì, nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đinh Thị T có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm của Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 70, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đinh Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc S.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thảo N, sinh ngày 10-01-2007 cho bà Đinh Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung là muốn được sống chung với mẹ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đinh Thị T chưa đặt ra yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Bà Đinh Thị T và ông Nguyễn Ngọc S chưa có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Đinh Thị T và ông Nguyễn Ngọc S không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đinh Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0013841 ngày 24-3-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ