vanban.org

Bản án 25/2023/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T do ông Trần Văn A làm đại diện.

Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N phải có nghĩa vụ trả lại cho chị Trần Thị T số tiền vốn vay là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T do ông Trần Văn A làm đại diện.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/DSST
Ngày: 16 – 05 – 2023
“ V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vui.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Hồng

Bà Trần Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Ngọc Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm không tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 296/2022/TLST - DS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXX - ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1971.

Địa chỉ: ấp H, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị T là ông Trần Văn A, sinh năm 1961 (có mặt)

Địa chỉ: ấp P, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: 1. Anh Đặng Văn C, sinh năm 1971 (có mặt)

2. Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1976 (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp H, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 29/8/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị T do ông Trần Văn A là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào ngày 06/5/2022 chị T có cho chị Nguyễn Thị Tuyết N vay số tiền là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng) khi vay có làm biên nhận nợ, lãi suất do chị T và chị N tự thỏa thuận, chị N và anh C hứa sẽ trả lãi cho chị T hàng tháng và trả dần số tiền vốn đã mượn, tuy nhiên sau khi nhận được tiền thì chị N và anh C không đóng tiền lãi cũng như không trả tiền vốn cho chị T, chị T đã nhiều lần yêu cầu chị N và anh C phải trả lại cho chị số tiền vốn đã vay là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng), nhưng đến nay chị N và anh C vẫn không trả.

Nay chị Trần Thị T do ông Trần Văn A làm đại diện yêu cầu chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Đặng Văn C có nghĩa vụ trả cho chị Trần Thị T số tiền vốn vay là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:

Chị N thừa nhận việc chị có vay của chị Trần Thị T số tiền 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng) đến nay vẫn chưa trả. Nay đối với yêu cầu của chị Trần Thị T do ông Trần Văn A làm đại diện yêu cầu chị N và anh Đặng Văn C có nghĩa vụ trả cho chị T số tiền vốn là 220.000.000đ không yêu cầu tính lãi thì chị N đồng ý, nhưng chị N xin trả dần theo khả năng của chị. Việc chị N vay của chị T số tiền 220.000.000đ là để sử dụng chung trong gia đình nên chị N yêu cầu ông C có trách nhiệm cùng với chị trả nợ cho chị T.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đặng Văn C trình bày:

Anh C không đồng ý cùng với chị Nguyễn Thị Tuyết N có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T số tiền vốn vay là 220.000.000đ vì việc vay tiền giữa chị N và chị T thì anh C hoàn toàn không biết, đến tháng 9/2022 khi chị T đến nhà gặp anh C yêu cầu trả nợ thì anh mới biết việc chị N vay của chị T số tiền trên. Chị N cũng không có sử dụng số tiền vay của chị T vào mục đích chung của gia đình hay mua sắm bất kỳ tài sản nào trong gia đình.

Ngoài ra đương sự không còn yêu cầu nào khác, vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Trần Thị T do ông Trần Văn A làm đại diện có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản với chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Đặng Văn C. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.

Nội dung vụ án: Chị Trần Thị T do ông A làm đại diện khởi kiện yêu cầu yêu cầu chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Đặng Văn C có nghĩa vụ trả cho chị T số tiền vốn vay là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

Chị Nguyễn Thị Tuyết N thừa nhận có vay của chị T số tiền vốn vay là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng) theo “giấy tay mượn tiền” ngày 06 tháng 05 năm 2022 và đồng ý sẽ trả cho chị Trần Thị T số tiền còn nợ, nhưng chị N xin trả dần theo khả năng của chị. Đồng thời chị N yêu cầu anh C phải có nghĩa vụ trả nợ chung với chị, việc chị N vay tiền của chị T là để sử dụng chung trong gia đình, nhưng chị N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình.

Anh Đặng Văn C không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T do ông A làm đại diện, việc chị N vay của chị T số tiền 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng), mặc dù anh C và chị N là vợ chồng hợp pháp, nhưng việc chị N trình bày chị vay tiền của chị T là để sử dụng chung trong gia đình, tuy nhiên anh C không thừa nhận, ngoài lời tình bày thì chị N cũng không có chứng cứ gì chứng minh nên không có tính thuyết phục cũng như không đảm bảo được tính trung thực. Do đó, việc anh C không đồng ý cùng với chị N có nghĩa vụ trả nợ cho chị T là có cơ sở để chấp nhận.

Từ những căn cứ trên đã có đủ cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T do ông Trần Văn A làm đại diện.

Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N phải có nghĩa vụ trả lại cho chị Trần Thị T số tiền vốn vay là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N phải nộp 220.000.000đ x 5% = 11.000.000 (mười một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Chị Trần Thị T không phải chịu án phí.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T do ông Trần Văn A làm đại diện.

Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N phải có nghĩa vụ trả lại cho chị Trần Thị T số tiền vốn vay là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N phải nộp 11.000.000 (mười một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

+ Chị Trần Thị T không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho chị Trần Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.500.0000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0009793 ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Vĩnh Long;

- VKSND huyện Vũng Liêm;

- Chi cụcTHADS huyện Vũng Liêm;

- Các đương sự;

- Lưu.

Huỳnh Văn Vui THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA

Huỳnh Văn Vui

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Vĩnh Long;

- VKSND huyện Vũng Liêm;

- Chi cụcTHADS huyện Vũng Liêm;

- Các đương sự;

- Lưu.

Huỳnh Văn Vui

Cỡ chữ