- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NH SG TT và Lê Thị hồng N"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T. Buộc bị đơn bà Lê Thị Hồng Ng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T số tiền là 19.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/DS - ST Ngày: 14/3/2023 V/v tranh chấp: Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Bùi Thanh Trí.
2/ Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2022 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXX-ST ngày 21 tháng 02 năm 2023. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T
Địa chỉ: 266-268 N K K N, Phường V T S, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc (BL01)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đèo Trung H (có mặt)
Địa chỉ: Số 95-97-99 V V T, P. T A, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.
(Giấy ủy quyền số 881/2022/UQ-CNCT ngày 17/8/2022 – BL 09)
Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng Ng, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 379, KV. Y H, P. L B, Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 12/9/2022 và bản tự khai ngày 01/02/2023 nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T trình bày:
Ngày 25/12/2019, Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T với bà Lê Thị Hồng Ng có ký hợp đồng tín dụng số LD1935900419 để cho bà Ngọc vay số tiền 30.000.000 đồng. Theo đó, thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng (ngày đáo hạn 25/12/2021), lãi suất để tính số vốn và lãi định kỳ mà bên vay phải trả cho ngân hàng là 20,5%/năm, mục đích vay: vay tiêu dùng.
Trong quá trình vay, bị đơn trả được 21.250.000 đồng nợ gốc và 8.791.621 đồng nợ lãi. Từ ngày 26/4/2021 bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Mặc dù qua nhiều lần nhắc nhở và làm việc nhưng bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ của hợp đồng tín dụng này là 19.000.335 đồng (Mười chín triệu, ba trăm ba mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc là 8.750.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng), lãi trong hạn là 3.587.500 đồng (Ba triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm đồng), lãi quá hạn là 6.662.835 đồng (Sáu triệu, sáu trăm sáu mươi hai nghìn, tám trăm ba mươi lăm đồng) tính đến ngày 01/02/2023 và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần bị đơn Lê Thị Hồng Ng đến tham gia phiên họp về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cụ thể vào các ngày 05/01/2023 và ngày 01/02/2023, nhưng bà Ngọc vắng mặt mà không có lý do. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số nợ gốc là 8.750.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng), nợ lãi đến ngày 14/3/2023 là 10.854.805 đồng (Mười triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, tám trăm lẽ năm đồng), trong đó nợ lãi trong hạn là 3.587.500 đồng (Ba triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm đồng), lãi quá hạn là 7.267.305 đồng (Bảy triệu, hai trăm sáu mươi bảy nghìn, ba trăm lẽ năm đồng) và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về tố tụng trước khi mở phiên tòa và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng tiến hành các thủ tục tố tụng là đúng quy định của pháp luật, không phát hiện vi phạm; Về nội dung, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự tại tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và ý kiến phát biểu của đại diện nguyên đơn và Kiểm sát viên tại phiên tòa:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Việc vay tiền giữa các đương sự được thỏa thuận và giao kết bằng Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1935900419 ngày 25/12/2019, mục đích vay tiền là để tiêu dùng. Trong đó bên vay có nghĩa vụ trả cho bên cho vay vốn gốc và lãi suất theo thỏa thuận trong Hợp đồng. Do bên vay không thực hiện đúng thỏa thuận nên xảy ra tranh chấp. Xét đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng được nghình luật dân sự điều chỉnh (do bên vay không có mục đích kinh doanh) và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi các đương sự có yêu cầu theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Lê Thị Hồng Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng bà Ngọc vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: căn cứ Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1935900419 ngày 25/12/2019 giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T với bà Lê Thị Hồng Ng do nguyên đơn cung cấp, có chữ ký của cả hai bên (BL 16 -18), theo đó bà Ngọc có vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng. Đại diện nguyên đơn xác định bị đơn đã thanh toán một phần gốc với số tiền là 21.250.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng). Bị đơn đã được nhận tiền vay nhưng lại không chịu thực hiện nghĩa vụ trả tiền vốn và lãi theo Hợp đồng, cố tình né tránh nghĩa vụ trả nợ. Theo xác nhận của Công an phường Lê Bình ngày 19/9/2022 (BL 26) thì đương sự Lê Thị Hồng Ng có đăng ký thương trú tại địa phương nhưng không thường xuyên có mặt, không báo với địa phương cũng như bên cho vay biết. Bị đơn cố tình trốn tránh và nhiều lần vắng mặt không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ kiện, thái độ xem thường pháp luật. Coi như bị đơn đã tự tước bỏ quyền tham gia tố tụng của mình và mặc nhiên chấp nhận toàn bộ lời trình bày của phía nguyên đơn. Nên số nợ gốc mà bị đơn còn phải thanh toán cho Ngân hàng 30.000.000.000 đồng - 21.250.000 đồng = 8.750.000 đồng (Tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là có căn cứ.
Về lãi suất: nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả lãi suất theo Hợp đồng đã thỏa thuận là 10.854.805 đồng (Mười triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, tám trăm lẽ năm đồng). Căn cứ vào nội dung của Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1935900419 ngày 25/12/2019 thì đây là Hợp đồng tín dụng thời hạn là 24 tháng; lãi suất trong hạn 20,5%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phạt chậm trả lãi 10%/năm trên số dư lãi chậm trả. Do đó, yêu cầu tiền lãi của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo qui định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Bởi lẽ theo qui định của pháp luật và cả thỏa thuận trong Hợp đồng nếu bên vay không trả lãi đúng hạn thì số dư nợ gốc sẽ bị chuyển thành nợ quá hạn và phải chịu lãi suất theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng. Và căn cứ vào bảng kê gốc - lãi đến ngày 14/3/2023 của nguyên đơn cung cấp thì nợ lãi trong hạn là nợ lãi trong hạn là 3.587.500 đồng (Ba triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm đồng), lãi quá hạn là 7.267.305 đồng (Bảy triệu, hai trăm sáu mươi bảy nghìn, ba trăm lẽ năm đồng). Nên tổng lãi mà phía bị đơn phải thanh toán là 10.854.805 đồng (Mười triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, tám trăm lẽ năm đồng).
Từ các phân tích trên, xét thấy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi là hoàn toàn có cơ sở theo qui định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và được pháp luật bảo vệ. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên nên Hội đồng xét chấp nhận.
Thời hạn và phương thức trả nợ thuộc thẩm quyền của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên phần nghĩa vụ phải thực hiện là 5% (8.750.000 đồng + 10.854.805 đồng) = 980.000 đồng (Chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo qui định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 463, 466 Bộ luật dân sự;
- Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T. Buộc bị đơn bà Lê Thị Hồng Ng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T số tiền là 19.604.805 đồng (Mười chín triệu, sáu trăm lẽ tư nghìn, tám trăm lẽ năm đồng), trong đó nợ gốc là 8.750.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và nợ lãi đến ngày 14/3/2023 là 10.854.805 đồng (Mười triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, tám trăm lẽ năm đồng) khi án có hiệu lực và lãi phát sinh từ ngày 15/3/2023 theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1935900419 ngày 25/12/2019 cho đến khi trả dứt nợ.
2/ Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0008803 ngày 07 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng.
Bị đơn bà Lê Thị Hồng Ng phải chịu 980.000 đồng (Chín trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn T T; kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND P. Lê Bình, Q. Cái Răng đối với bà Lê Thị Hồng Ng thì các đương sự được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận - TAND. TP/ Cần Thơ. - VKSND.Q.Cái Răng. - Cơ quan Thi hành án. - Người TGTT. - Lưu HS – BA | Thái Mỹ Nhung |