- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/DS-ST Ngày: 16/3/2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNT, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chậm.
2. Bà Võ Thị Ngọc Nga.
-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Chung-Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị B sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Hưng Phú, xã HT, huyện T, Tiền Giang.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị Bé BT, sinh năm 1962 (vắng mặt).
Ông Lê Văn G, sinh năm 1952 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp Hưng Phú, xã HT, huyện T, Tiền Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Hưng Phú, xã HT, huyện T, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Trần Thị B trình bày:
Do chỗ quen biết nên từ năm 2021 đến năm 2022 bà có cho bà BT và ông G vay nhiều lần tiền cụ thể như sau:
+ Ngày 06/02/2021 (âm lịch) vay 320.000.000đồng, lãi suất 3%/tháng, hai bên thỏa thuận miệng thời hạn vay là 01 năm.
+ Ngày 19/02/2021 (âm lịch) vay 160.000.000đồng, lãi suất 3%/tháng, hai bên thỏa thuận miệng thời hạn vay là 01 năm.
+ Ngày 27/5/2021 (âm lịch) vay 40.000.000đồng, lãi suất 3%/tháng, hai bên thỏa thuận miệng thời hạn vay là 01 năm.
+ Ngày 06/6/2021 (âm lịch) vay 40.000.000đồng, lãi suất 3%/tháng, hai bên thỏa thuận miệng thời hạn vay là 01 năm.
+ Ngày 06/4/2022 (âm lịch) vay 50.000.000đồng, lãi suất 3%/tháng, hai bên thỏa thuận miệng thời hạn vay là 01 năm.
+ Ngày 22/6/2022 (âm lịch) vay 100.000.000đồng, lãi suất 3%/tháng, hai bên thỏa thuận miệng thời hạn vay là 03 tháng.
Tất cả các lần vay tiền, bà BT và ông G có trả lãi đủ đến tháng 8/2022 (âm lịch) thì ngưng, không trả vốn mặc dù bà đã đòi nhiều lần nhưng bà BT và ông G không trả mà cố tình tránh mặt bà.
Tại thời điểm bà cho bà BT và ông G vay tiền là phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà BT và ông G, số tiền vay nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy đây là nợ chung của vợ chồng bà BT và ông G, cả hai đều có nghĩa vụ trả nợ cho bà.
Nay bà yêu cầu bà BT và ông G liên đới trả cho bà số tiền nợ là 710.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Yêu cầu trả một lần và trả ngay khi bản án có hiệu lực.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị BT trình bày:
Bà có vay nhiều lần tiền của bà B số tiền 710.000.000đồng, thỏa thuận lãi suất 5%/tháng, bà trả lãi hàng tháng. Đến tháng 10/2022 bà không có khả năng trả lãi cho bà B và chưa trả gốc. Nay bà B khởi kiện, bà đồng ý trả số nợ 710.000.000đồng, bà đồng ý trả một mình không liên đới cùng ông G. Bà xin trả dẫn mỗi tháng 10.000.000đồng đến khi hết nợ.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Văn G trình bày:
Đây là nợ riêng của bà BT, việc vay tiền của vợ ông bà BT thì ông không biết, đến khi bà B đến nhà buộc ông ký giấy nợ, ông mới biết. Nay ông không đồng ý liên đới cùng bà BT để trả nợ cho bà B.
* Theo lời khai tại phiên tòa, ông Trần Văn H trình bày: Ông là chồng của bà B, đây là số nợ mà bà BT và ông G nợ riêng bà B, yêu cầu Tòa án buộc bà BT và ông G liên đới trả cho bà B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị B trình bày có cho bà Lê Thị BT và ông Lê Văn G vay nhiều lần tiền và bà BT cũng thừa nhận có việc vay tiền; nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có địa chỉ xã HT, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về việc vắng mặt bị đơn: Bà Lê Thị BT và ông Lê Văn G được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng có đơn xin vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà BT và ông G.
Về yêu cầu bà BT, ông G liên đới trả nợ: Tại thời điểm diễn ra giao dịch vay tiền với bà B thì bà BT và ông G là vợ chồng hợp pháp. Hội đồng xét xử xác định nghĩa vụ trả nợ của bà BT và ông G phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là nghĩa vụ chung của ông bà BT và ông G, số tiền vay lớn, vay nhiều lần, diễn ra trong thời gian dài và trong các biên nhận có thể hiện bà BT, ông G cùng ký tên. Căn cứ vào các điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng phải có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó yêu cầu của bà B yêu cầu Tòa án buộc ông G và bà BT cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về số tiền nợ là 710.000.000 đồng: Tại biên nhận ngày 06/2/2021 (âm lịch), ngày 19/2/2021 (âm lịch), ngày 27/5/2021 (âm lịch), ngày 06/6/2021 (âm lịch), ngày 06/4/2022 (âm lịch) và ngày 22/6/2022 (âm lịch) đều có thể hiện tổng số tiền vay là 710.000.000 đồng và bà BT đã thừa nhận số tiền vay trên, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà B đã đòi nhiều lần nhưng bà BT và ông G không trả là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó bà B khởi kiện yêu cầu bà BT và ông G trả nợ gốc với số tiền 710.000.000 đồng là có căn cứ. Bà BT xin trả dần 10.000.000đồng/tháng là nhằm kéo dài thời gian trở nợ, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà B, ông G không đồng ý liên đới trả nợ cho bà B là không phù hợp và không được bà B đồng ý nên Hội đồng xét xử cần buộc bà BT, ông G liên đới trả nợ cho bà B khi án có hiệu lực pháp luật.
Về lãi suất: Bà B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Bà BT và ông G là người cao tuổi thuộc đối tượng miễn nộp án phí và có đơn đề nghị miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà BT, ông G.
Bà B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 357, Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B.
Buộc ông Lê Văn G và bà Lê Thị BT liên đới trả cho bà Trần Thị B số tiền 710.000.000 đồng (B trăm mười triệu đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Miễn toàn bộ án phí cho bà Lê Thị BT và ông Lê Văn G.
- Hoàn lại cho bà Trần Thị B 16.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003314 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, Tiền Giang.
3. Quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày; đối với bà B và ông H được tính từ ngày tuyên án; đối với bà BT và ông G được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện T; - THADS huyện T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Thi |