- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: VÕ HỮU T, BÙI PHƯƠNG L phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2022/HSST Ngày 16 tháng 3 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thẩm phán. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kình và Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 1 năm 2022, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2022/TBXXST ngày 21/02/2022, đối với:
* Bị cáo: Võ Hữu T. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1993. Tên gọi khác: Không. ĐKHKTT: thôn Đ, xã N huyện T, tỉnh Q. Chỗ ở: Phòng 21, 11A xóm H, phường T, quận K, H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 8/12. Họ tên cha: Võ Xuân S. Sinh năm: 1966. Họ tên mẹ: Trần Thị L. Sinh năm: 1967. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Danh chỉ bản số 333, lập ngày 10/12/2021 tại Công an quận K .
Nhân thân: 02 tiền án
- Ngày 18/8/2014, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (tài sản trị giá 7.500.00 đồng) (AS:182/HSST). Ra trại ngày 18/02/2015. Xác minh thi hành án, chưa thi hành số tiền 8.500.000 đồng tiền sung công quỹ nhà nước và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm - Án tích chưa xóa.
- Ngày 23/01/2017, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (tài sản trị giá 16.000.00 đồng) (AS: 15/HSST). Ra trại ngày 06/5/2018. Xác minh thi hành án, chưa thi hành số tiền 1.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm - Án tích chưa xóa.
Tạm giữ: 22/5/2021
Tạm giam: 27/5/2021
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Tp Hà Nội
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị cáo: Bùi Phương L. Giới tính: Nữ. Sinh năm: 1992. Tên gọi khác: Không. ĐKHKTT: số 22 T, phường H, quận K, H. Chỗ ở: Phòng 21, 11A xóm H, phường T, quận K, H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/12. Họ tên cha: Bùi Tiến D. Sinh năm: 1971. Họ tên mẹ: Lương Thị N. Sinh năm: 1974. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Đã ly hôn. Có một con sinh năm 2009.
Danh chỉ bản số 312, lập ngày 27/5/2021 tại Công an quận K.
Nhân thân: Không tiền án, tiền sự.
Tạm giữ: 22/5/2021
Tạm giam: 27/5/2021
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Tp.H
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/5/2021, tổ công tác Công an phường C phối hợp với đội CSĐT tội phạm về ma túy – Công an quận K làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát phát hiện Võ Hữu T đang đứng tại vỉa hè trước cửa số nhà 39 L, phường C, quận K, H có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện dưới lòng bàn chân trái của T có 01 túi ni lông kích thước khoảng 03x03cm chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T khai đó là ma túy “đá” đang mang đi bán cho khách để kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa T cùng tang vật về trụ sở Công an phường C để giải quyết.
Tang vật thu giữ của Võ Hữu T: 01 túi ni lông kích thước 3x3cm chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 3 màu xanh, số imei: 868236041413353, 868236041413346, sim số: 0878593621, 0773974322 (BL: 117).
Tại Bản Kết luận giám định số 4283/KLGĐ-PC09 ngày 28/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,620 gam. (BL: 58).
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Hữu T tại địa chỉ: phòng 21, số 11A Xóm H, phường T, K, H, tại thời điểm khám xét có Bùi Phương L đang ở trong phòng, thu giữ: 01 túi ni lông màu trắng kích thước 3x5cm chứa tinh thể màu trắng; 01 hộp nhựa màu đỏ hình chữ nhật có nắp đậy màu trắng kích thước 11x5x1,5cm, bên trong có: 01 túi ni lông mầu trắng kích thước 5x10cm chứa tinh thể màu trắng, 01 túi ni lông màu trắng kích thước 3x3cm chứa tinh thể màu trắng, 02 túi ni lông kích thước 3x4cm dính tinh thể màu trắng, 01 cân điện tử màu trắng kích thước 4x6cm, 01 bộ tẩu hút tự tạo bằng chai nhựa ; 01 bộ tẩu hút tự tạo bằng thủy tinh (BL: 54-55).
Tại Bản Kết luận giám định số 4282/KLGĐ-PC09 ngày 28/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP H kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 4,400 gam; 02 túi ni lông, 01 cân điện tử màu trắng, 02 bộ tẩu hút tự tạo đều có dính ma túy loại Methamphetamine (BL: 61).
Tang vật thu giữ của Bùi Phương L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh, sim 1: 0376095229, sim 2: 0988487673, số imei 1: 354868100574252, số imei 2: 354869100574205 và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. (BL: 194).
Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi Bùi Phương L đăng ký hộ khẩu thường trú 22 T phường H, quận K, H nhưng không thu giữ được gì L quan đến ma túy (BL: 55B).
Quá trình điều tra, ban đầu Võ Hữu T khai tên là Võ Thanh T1 (sinh năm 1988; ĐKHKTT: Thôn Đ 04, N, T, Q). Qua xác minh, Công an xã N, huyện T, tỉnh Q cung cấp: tên thật của bị can là Võ Hữu T, không phải là Võ Thanh T1. Võ Thanh T (sinh năm 1988; ĐKHKTT: Thôn Đ 04, N, T, tỉnh Q) là anh trai của Võ Hữu T hiện đang sinh sống tại địa phương. Ngày 13/9/2021, Cơ quan CSĐT – Công an quận K ra Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can số 04 đối với Võ Thanh T1 thành Võ Hữu T.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Hữu T và Bùi Phương L cùng khai nhận: T và L quen nhau qua mạng xã hội Facebook. Đến ngày 17/5/2021, T đi từ Thành phố M ra H thuê nhà tại phố H, phường H, quận K, H để ở cùng L. Khoảng 01 giờ ngày 21/5/2021, T và L góp mỗi người 750.000 đồng mua ma túy mục đích nếu có ai hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Sau đó, L đi đến khu vực đầu ngõ 318 Đ, quận Đ gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 1.500.000 đồng ma túy “đá” và mang về nhà cất giấu. Khoảng 09 giờ cùng ngày, có người bạn xã hội (tài khoản Zalo “Q Zoker”, không biết tên tuổi, địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0356515535 gọi điện cho T hỏi mua 200.000 đồng ma túy “đá” thỏa thuận giao dịch tại 16 H, T và L đồng ý bán. T mang ma túy “đá” bán cho khách được 200.000 đồng và mang tiền về đưa cho L. Sau đó, T và L chuyển chỗ ở và cùng thuê phòng 21, 11A xóm H, phường T, quận K, H. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, T tiếp tục nhận được tin nhắn từ tài khoản Zalo “Q Joker” hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”. T và L đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại số 39 L, phường C, quận K, H. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, T dán 01 túi ni lông kích thước khoảng 03x03cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy “đá” dưới lòng bàn chân trái rồi bảo L đặt xe ôm công nghệ “Bee” chở đến 39 L để bán ma túy cho khách. Đến nơi, T xuống xe định gọi điện cho khách thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. Số ma túy thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại phòng 21 số 11A xóm H là của T và L mục đích bán kiếm lời; cân điện tử sử dụng để chia ma túy; túi ni lông dính ma túy, 02 tẩu hút tự tạo là công cụ để sử dụng ma túy; 02 điện thoại di động T và L sử dụng để L lạc mua bán ma túy; số tiền 200.000 đồng là tiền bán ma túy vào sáng ngày 21/5/2021. (BL: 149-168; 176-192).
Căn cứ lời khai của Võ Hữu T và Bùi Phương L phù hợp với nhau, phù hợp với list điện thoại thu giữ, phù hợp với biên bản kiểm tra điện thoại Realme 3 màu xanh hồi 22 giờ 25 phút ngày 21/5/2021, phù hợp với tang vật thu giữ của L là 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, đủ căn cứ kết luận: Vào sáng ngày 21/5/2021, Võ Hữu T và Bùi Phương L đã bán trót lọt 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng tại phố H, phường H, quận Hoàn K, H.
Anh Mai Văn V khai phù hợp với lời khai của Võ Hữu T về nội dung vụ việc. Anh V là lái xe ôm công nghệ, xét không L quan đến hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra không xử lý. (BL: 201-207).
Về đối tượng mua ma túy sử dụng tài khoản Zalo “Q Zoker”, sử dụng số điện thoại 0356515535, T và L đều khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0356515535, xác định chủ đăng ký thuê bao là ông Đỗ Duy Đ (SN: 1940, trú tại: Ấp 8 xã Sông R, huyện C, tỉnh Đ). Xác minh tại Công an xã S: Ông Đỗ Duy Đ đã chết ngày 01/5/2021, quá trình sinh sống ông Đ không sử dụng số điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. (BL: 105-111).
Về đối tượng bán ma túy cho L, L khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 12 tháng 01 năm 2022 đã truy tố Võ Hữu T tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự, đã truy tố Bùi Phương L tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận như khai tại Cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Võ Hữu T tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự, đã truy tố Bùi Phương L tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K giữ quyền công tố sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng đã ban hành, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Hữu T, Bùi Phương L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b, i, q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Hữu T với mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm b, i, khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Phương L với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt phụ là phạt tiền vì các bị cáo nghề nghiệp không ổn định. Đề nghị tịch thu sung công quỹ tang vật đã thu giữ của bị cáo là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 3 màu xanh, số imei: 868236041413353, 868236041413346 và 200.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh, số imei 1: 354868100574252, số imei 2: 354869100574205. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy, 04 sim điện thoại, 01 cân điện tử màu trắng, 02 bộ tẩu hút tự tạo đã thu giữ của bị cáo. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng Nghị án, các bị cáo được nói lời sau cùng, các bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, xin hứa không tái phạm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 21/5/2021, Võ Hữu T và Bùi Phương L cùng góp mỗi người 750.000 đồng để mua ma túy mục đích bán kiếm lời. Trong ngày 21/5/2021, T và L đã có hành vi 02 lần bán trái phép chất ma túy cụ thể:
Sáng ngày 21/5/2021, T và L đã bán trót lọt cho khách 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng tại phố H, phường H, quận K, H.
Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/5/2021, L đặt xe ôm công nghệ qua ứng dụng Bee chở T đi bán ma túy. Khi T đang mang 0,620 gam ma túy loại Methamphetamine đợi bán cho khách thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại vỉa hè trước cửa số nhà 39 L, phường C, quận K, H.
Ngoài ra, T và L còn cất giấu 4,400 gam ma túy loại Methamphetamine tại phòng 21, số 11A Xóm H, phường T, K, H, mục đích để bán. Như vậy, tổng khối lượng ma túy Võ Hữu T và Bùi Phương L cất giấu nhằm bán kiếm lời là 5,02 gam Methamphetamine.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Võ Hữu T phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng tình tiết này là tình tiết định tội nên không xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, HĐXX cũng xem xét đến hành vi khai báo gian dối về họ tên của bị cáo T trong quá trình điều tra dẫn đến việc kéo dài thời hạn điều tra vụ án.
Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; răn đe những người có ý định phạm tội góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước. Hơn nữa, bị cáo được giáo dục cải tạo, giúp bị cáo nhận thức rõ tội lỗi, hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục, sửa chữa những thói quen, hành vi của bản thân không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; ăn năn, hối cải, tích cực lao động, học tập, cải tạo, xây dựng nhận thức, tình cảm đúng đắn, định hướng được các giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công dân để khi trở về địa phương, họ sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Thời gian các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt phụ bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về Biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ tài sản đã thu giữ của các bị cáo gồm 02 điện thoại di động và số tiền 200.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy số ma túy, 02 chiếc cân ma túy, các vật dụng L quan đến ma túy đã thu giữ của các bị cáo và sim điện thoại số 0878593621, 0773974322, 0376095229, 0988487673,
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Án phí hình sự: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: VÕ HỮU T, BÙI PHƯƠNG L phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
2. Áp dụng:
- Điều 251 điểm b, i, q khoản 2; Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ Luật Hình sự;
2.1. Xử phạt: VÕ HỮU T 08 (TÁM) năm 10 (MƯỜI) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2021.
3. Áp dụng:
- Điều 251 điểm b, i khoản 2; Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ Luật Hình sự;
3.1. Xử phạt: BÙI PHƯƠNG L 07 (BẨY) năm 10 (MƯỜI) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2021
4. Áp dụng:
- Điều 47 Bộ Luật hình sự;
- Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
4.1 Biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong bên trong có: 01 túi ni lông kích thước 3x3cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,620 gam (PC 09 - Công an TPHN đã trích lấy mẫu để giám định 0,040 gam, còn lại 0,580 gam). Tại các mép niêm phong có chữ ký ghi Võ Thanh T1, người chứng kiến Mai Văn V, cán bộ Nguyễn Trung Thành và giám định viên Nguyễn Văn Hùng.
+ 01 phong bì niêm phong, tại các mép niêm phong có chữ ký ghi Võ Thanh T1, Bùi Phương L, người chứng kiến Mai Quốc Chính, cán bộ Nguyễn Trung Thành và giám định viên Nguyễn Văn Hùng, bên trong có:
4,400 gam (PC 09 - Công an TPHN đã trích lấy mẫu để giám định 0,090 gam, còn lại 4,310 gam);
01 hộp nhựa màu đỏ hình chữ nhật có nắp đậy màu trắng kích thước 11x5x1,5cm;
02 túi ni lông kích thước 3x4cm dính ma túy loại Methamphetamine;
01 cân điện tử màu trắng kích thước 4x6cm.
+ 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 35x25cm bên trong có: 01 bộ tẩu hút tự tạo bằng chai nhựa ; 01 bộ tẩu hút tự tạo bằng thủy tinh, bên ngoài có giấy trắng cuốn niêm phong có chữ ký của ghi Võ Thanh T1, Bùi Phương L, người chứng kiến Mai Quốc Chính, cán bộ Nguyễn Trung Thành và giám định viên Nguyễn Văn Hùng.
+ 04 sim điện thoại số 0878593621, 0773974322, 0376095229, 0988487673;
- Tịch thu xung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 3 màu xanh, số imei: 868236041413353, 868236041413346; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh, số imei 1: 354868100574252, số imei 2: 354869100574205 và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.
Số vật chứng trên hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 11/3/2022.
Số tiền đã nộp tại Kho bạc Nhà nước theo Giấy nộp tiền vào tài khoản Chi Cục Thi hành án dân sự quận K ngày 11/03/2022.
5. Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - VKSND thành phố Hà Nội; - Cơ quan Điều tra quận Hoàn Kiếm - Chi cục Thi hành án DSQK; - Sở Tư pháp Tp H; - Sở Tư pháp tỉnh Q; - Ủy ban nhân dân p. H; - Ủy ban nhân dân x. N; - Lưu Hồ sơ vụ án. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THU HÀ |