vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Xử phạt bị cáo Trần Anh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2022. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Anh T nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HS-ST
Ngày: 16-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Công Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Công Mẫn; ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: ông Mai Văn Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

Trần Anh T (Tên gọi khác: T), sinh ngày 01/01/1975 tại tỉnh Sóc Trăng; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số A N, khu phố M, Phường B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Trần Kim T, sinh năm 1950 (Đã chết) và bà Phan Thị T, sinh năm 1950 (Đã chết); Có vợ (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2002;

Tiền án: 04 lần (Đã xóa án tích), cụ thể:

- Tại Bản án số 17/HS-ST ngày 15/11/1994 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, xử phạt bị cáo Trần Anh T 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 28/7/1994.

- Tại Bản án số 01/HSST ngày 28/01/2003 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, xử phạt bị cáo Trần Anh T 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày 28/01/2003, về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tại Bản án số 300/HSST ngày 15/10/2003 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chính Minh, xử phạt bị cáo Trần Anh T 03 năm 4 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 09 tháng 21 ngày tù theo Bản án số 01/HSST ngày 28/01/2003 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 năm 01 tháng 21 ngày, thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2003.

- Tại Bản án số 28/2010/HSST ngày 30/11/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, xử phạt bị cáo Trần Anh T 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2018.

Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/02/2022, chuyển sang tạm giam từ ngày 11/02/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công an thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang;

Đại diện theo ủy quyền: ông Từ Văn Bắc – Phó Trưởng Công an; (Xin vắng mặt)

2/ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; (Xin vắng mặt)

3/ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1994; (Xin vắng mặt)

4/ Anh Trần Anh V, sinh năm 2000; (Xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

5/ Chị Đặng Thị Xuân T, sinh năm 1979; (Có mặt)

Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Anh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Gò Công khởi tố bị can và bắt tạm giam vào ngày 28/12/2021 về tội: “Trộm cắp tài sản”. Trong quá trình tạm giam bị cáo bị bệnh, nên thực hiện Lệnh trích xuất số 90/LTX ngày 05/02/2022 của Trưởng Nhà tạm giữ - Công an thị xã Gò Công, Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp đã tổ chức áp giải bị cáo T đến Bệnh viện đa khoa khu vực G thuộc phường N, thị xã G, tỉnh Tiền Giang để khám bệnh. Kết quả siêu âm kết luận bị cáo T viêm vách bàng quang – sỏi túi mật, sau đó nhập viện nằm điều trị tại Phòng hậu phẫu 3 - Nữ - Ngoại 9.

Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp đã tiến hành lên lịch phân công bảo vệ đối với 03 cán bộ canh giữ gồm: Trung úy Nguyễn Văn T, Trung sĩ Nguyễn Văn T và Trung sĩ Trần Anh V thuộc Công an thị xã Gò Công, mỗi người sẽ thay nhau trực và canh gác 24/24 giờ (luân phiên cứ 02 giờ là 01 đồng chí). Vào khoảng 01 giờ 40 phút ngày 07/02/2022, Trung uý Nguyễn Văn T (ca gác từ 00 giờ đến 02 giờ ngày 07/02/2022) phát hiện bị cáo T đã bỏ trốn khỏi phòng điều trị nên trình báo Chỉ huy Công an biết sự việc xảy ra. Qua làm việc đồng chí Nguyễn Văn T thừa nhận có ngủ gục trong ca gác nên đã để xảy ra việc bị cáo T bỏ trốn.

Ngày 07/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công ra Quyết định truy nã số 01/QĐTN-HS đối với bị cáo T.

Ngày 08/02/2022, bị cáo T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 (Một) khoá số 8, trên khoá có dập dòng chữ “E112 - 15”; 01 (Một) khoá số 8, trên khoá có dập dòng chữ “BỘ CÔNG AN - E16 2007”; 01 (Một) khoá số 8, trên khoá có dập dòng chữ “KC - 97”; 01 (Một) khoá (Cùm) chân và 01 (Một) ổ khoá móc vào khoá (Cùm) chân trên.

Đối với cái muỗng nhựa ăn cơm mà bị cáo dùng để tháo còng tay, qua làm việc bị cáo khai nhận sau khi tháo còng tay xong thì bị cáo đã vứt bỏ ở đâu, không nhớ rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công không thu hồi được.

Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSTXGC ngày 25/4/2022, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, đã truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”, theo quy định tại khoản 1 Điều 386 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện, không có ý kiến tranh luận bổ sung.

- Chị Đặng Thị Xuân T không có ý kiến tranh luận hay yêu cầu gì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2022.

+ Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công trao trả lại cho ông Trần Công Nam – Phó trưởng nhà tạm giữ Công an thị xã Gò Công toàn bộ vật chứng thu giữ là đúng quy định, đề nghị ghi nhận.

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi của mình. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo về làm lại cuộc đời lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T khai nhận khoảng 01 giờ ngày 07/02/2022, tại Phòng hậu phẫu 3 - Nữ - Ngoại 9 thuộc Bệnh viện đa khoa khu vực Gò Công, tỉnh Tiền Giang, lợi dụng sơ hở của cán bộ canh gác bị cáo dùng một cái muỗng nhựa ăn cơm tự tháo còng tay bỏ lại giường bệnh, đi ra cổng sau Bệnh viện trèo tường ra ngoài và thuê taxi lên đến Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi, bị cáo T mượn điện thoại của tài xế taxi gọi cho chị Đặng Thị Xuân T hẹn gặp tại khu vực gần bến xe Quận 8 và trả tiền thuê taxi. Sau đó, cả hai về nhà của chị T tại ấp Bình Hưng, xã Thành Công, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang ngủ. Đến sáng ngày 08/02/2022, bị cáo T nói với chị T là trốn trại ra, được sự động viên của chị T, bị cáo T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công đầu thú. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”, theo quy định tại khoản 1 Điều 386 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính đúng đắn trong hoạt động tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, xâm phạm chế độ tạm giữ, tạm giam trong hoạt động điều tra, gây khó khăn và cản trở Cơ quan Tư pháp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Hành vi này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân và gây mất trật tự trong xã hội. Bị cáo từng có bốn tiền án dù đã dược xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân không tốt. Ngày 08/6/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thái độ của bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải và bị cáo đã tự đầu thú. Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, khi lượng hình.

Về biện pháp tư pháp: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công đã trả lại toàn bộ vật chứng thu giữ cho Nhà tạm giữ Công an thị xã Gò Công vào ngày 07/02/2022 là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đối với trách nhiệm của cán bộ Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T và Trần Anh V thì Công an thị xã Gò Công lập hồ sơ xử lý vi phạm trong việc để bị cáo T trốn khỏi nơi giam, giữ theo quy định của ngành Công an.

Đối với chị Đặng Thị Xuân T khi biết bị cáo trốn khỏi nơi giam giữ, có động viên bị cáo ra đầu thú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công không xử lý về tội “Che giấu tội phạm” là có cơ sở.

Đối với tài xế taxi mà bị cáo thuê chở đến Quận 8 và cho mượn điện thoại để liên lạc với chị T. Qua làm việc, bị cáo khai nhận không nhớ đặc điểm của người tài xế và người này cũng không biết bị cáo vừa trốn khỏi nơi giam, giữ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành xác minh làm việc được.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 386; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Xử phạt bị cáo Trần Anh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2022.

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Anh T nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Cỡ chữ