vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 21/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 02 (hai) năm tù. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN - T - A - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/ 2022/HS-ST
Ngày 21-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phương Trang;

2. Ông Trần Duy Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2022/TLST-HS, ngày 27 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Lê Thanh T, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1992 tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm C, phường L, thị xã E, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Khóm 3, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Thanh S, sinh năm 1974 và bà Mao Thị Đ, sinh năm 1974; vợ: Huỳnh Ngô A, sinh ngày 27/9/1997 (là bị cáo trong cùng vụ án); con: có 04 người, người con lớn nhất sinh năm 2014, người con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự: Chưa có; tiền án: Chưa có; về nhân thân: Ngày 29/01/2021, bị Ủy ban Nhân dân phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời hạn 03 (ba) tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chấp hành xong quyết định ngày 29/4/2021); tạm giữ: Ngày 05/01/2022; tạm giam: Từ ngày 08/01/2022 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Huỳnh Ngô A (tên gọi khác: Y), sinh ngày 27 tháng 9 năm 1997 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm 3, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Huỳnh Công Q, sinh năm 1970 (chết) và bà Ngô Thị Thanh F, sinh năm 1967 (chết); chồng: Lê Thanh T, sinh ngày 15/02/1992 (là bị cáo trong cùng vụ án); con: có 04 người, người con lớn nhất sinh năm 2014, người con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự: Chưa có; tiền án: Chưa có; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Phan V, sinh năm 1998 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp Bình Chánh, xã Bình Thạnh, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

2. Nguyễn Z, sinh năm 1996 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm 1, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

3. Bùi Văn M, sinh năm 1990 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm 2, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp

- Người chứng kiến:

1. Trần Hữu O, sinh năm 1994 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm I, phường K, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

2. Trần W, sinh năm 1984 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp P1, xã A2, huyện A1, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 05/01/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm hình sự, kinh tế, ma túy Công an thành phố H phối hợp với Công an phường X 1, thành phố H kiểm tra hành chính phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An thuộc khóm 3, phường X 1, thành phố H. Thời điểm kiểm tra trong phòng gồm Lê Thanh T, Huỳnh Ngô A (vợ của T) và Nguyễn Z, ngụ khóm 1, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

Qua kiểm tra, phát hiện trong phòng trọ của T và Ái có 02 (hai) bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng chất ma túy; Trong phòng ngủ thu giữ 04 (bốn) đoạn ống mũ nhựa bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; Kiểm tra dưới nệm trong phòng ngủ thu giữ 01 (một) đoạn ống mũ nhựa màu trắng sọc xanh hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng và 15 (mười lăm) đoạn ống mũ nhựa màu trắng sọc xanh, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi ma túy chưa xác định T lượng, được cất giấu dưới chân giường ngủ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 19 (mười chín) đoạn ống mủ nhựa màu trắng sọc xanh, hàn kín hai đầu bên trong mỗi đoạn đều có chứa chất bột rắn màu trắng nghi ma túy chưa xác định T lượng; 01 (một) đoạn ống mủ nhựa màu trắng sọc xanh, hàn kín hai đầu bên trong mỗi đoạn đều có chứa chất bột rắn màu trắng nghi ma túy chưa xác định T lượng; 01 (một) chai nhựa màu hồng, nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mủ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế; 01 (một) chai nhựa màu trắng (chai dùng đựng nước ngọt, hiệu STING), nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mủ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MI màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng - hồng, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam: 400.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số: 25/KL-KTHS ngày 07/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 19 (mười chín) đoạn ống mủ nhựa màu trắng sọc xanh hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,200 gam loại Heroin.

Tinh thể rắn chứa trong 01 (một) đoạn ống mủ nhựa màu trắng sọc xanh được hàn kín bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,096 gam loại Methamphetamine”.

Qua điều tra, Lê Thanh T khai nhận số ma túy bị bắt quả tang là của T, trong đó 19 (mười chín) đoạn Heroin, T mua của một người thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang với giá 600.000 đồng và 01 (một) đoạn ma túy còn lại (loại ma túy đá) được một người bạn không rõ họ tên cho vào ngày 04/01/2022 mục đích để sử dụng.

Ngoài ra, Lê Thanh T còn khai nhận trước khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, T đã nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thành phố H. Cụ thể:

- Bán cho Bùi Văn M, ngụ khóm 2, phường X 1, thành phố H 01 lần: Vào buổi sáng (không nhớ rõ thời gian cụ thể), ngày 02/01/2022 tại cửa phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An thuộc khóm 3, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp bán ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng/tép.

- Bán cho Phan V, ngụ ấp Bình Chánh, xã Bình Thạnh, thành phố H 06 lần: Các lần bán này không nhớ rõ thời gian cụ thể, tại cửa phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An thuộc khóm 3, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp bán ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng/tép.

- Bán cho Nguyễn Z, ngụ khóm 1, phường X 1, thành phố H 02 lần: Thời gian khoảng 08-09 giờ, ngày 03-04/01/2022, tại trước cửa phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An thuộc khóm 3, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp bán ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng/tép.

Huỳnh Ngô A thừa nhận có bán ma túy hộ cho Lê Thanh T 04 lần. Cụ thể:

- Bán ma túy cho Phan V 02 lần (không nhớ rõ thời gian cụ thể), tại phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An thuộc khóm 3, phường X 1, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp bán với giá 100.000 đồng/tép. Khi bán xong Ái đưa tiền cho T.

- Bán ma túy cho Nguyễn Z 02 lần, lần thứ nhất: Cuối tháng 12/2021, thời điểm này T đi ra khỏi phòng (trước khi đi T có để lại 02-03 tép Heroin, Ái cất giấu dưới gối nằm trong phòng tại phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An). Z đến phòng hỏi mua 01 tép ma túy với giá 100.000 đồng/tép nhưng chỉ đưa 60.000 đồng. Khi bán xong Ái đưa tiền cho Lê Thanh T; lần thứ hai: ngày 04/01/2022, thời điểm này Lê Thanh T đang trong phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An cùng với Ái thì Z đến phòng hỏi mua 01 tép ma túy với giá 100.000 đồng/tép. T kêu Ái giao ma túy và nhận tiền đưa lại cho T.

Quá trình điều tra, xác định điện thoại di động nhãn hiệu MI, màu xanh, Lê Thanh T sử dụng để liên lạc mua ma túy;

01 (một) chai nhựa màu hồng, nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mũ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế và 01 (một) chai nhựa màu trắng (chai dùng đựng nước ngọt, hiệu STING), nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mũ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế T dùng để sử dụng ma túy; Tiền Việt Nam 400.000 đồng là tiền do T làm thuê mà có dùng sử dụng chi tiêu cá nhân hằng ngày, không liên quan đến việc mua bán ma túy.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Z 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng - hồng, đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKSTPHN, ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Thanh T và Huỳnh Ngô A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sư.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Huỳnh Ngô A đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; truy tố bị cáo Huỳnh Ngô A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh T mức hình phạt từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bi cáo Lê Thanh T từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của 2 tội, đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 11 năm đến 13 năm tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bi cáo Huỳnh Ngô A từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đối với việc Lê Thanh T khai nhận số lượng ma túy loại Heroin bị bắt quả tang, mua của một người thanh niên không rõ họ tên cụ thể tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang với giá 600.000 đồng và số lượng ma túy loại Methamphetamine được một người bạn không rõ họ tên cho T vào ngày 04/01/2022, mục đích để sử dụng. Qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với số lượng ma túy loại Heroin và Methamphetamine bị bắt quả tang, T cất giấu ở phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An để sử dụng. Số lượng ma túy này Huỳnh Ngô A không biết do đó không xem xét xử lý Ái với vai trò đồng phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với các đối tượng Nguyễn Z, Phan V, Bùi Văn M là những đối tượng mua ma túy chỉ để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất nên hành vi của các đối tượng không cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đề nghị Công an thành phố H xử lý hành chính các đối tượng nêu trên nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với việc Lê Thanh T thực hiện hành vi Cướp giật tài sản vào ngày 04-05/12/2021 tại thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang và đồng phạm thực hiện tội phạm ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Hiện vụ việc đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, thụ lý giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý hành vi này đối với Lê Thanh T.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Z 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng - hồng, đã qua sử dụng vì không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa không phát sinh gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong ghi “Niêm phong số 14/1, ngày 06/01/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Sóc, Trương Minh Vũ, Đinh Nhựt Dũng và Lê Thanh T, 01 (một) túi niêm phong ghi “Niêm phong số 14/2, ngày 06/01/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Sóc, Trương Minh Vũ, Đinh Nhựt Dũng và Lê Thanh T, 01 (một) chai nhựa màu hồng, nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mủ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế, 01 (một) chai nhựa màu trắng (chai dùng đựng nước ngọt, hiệu STING), nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mủ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MI màu xanh, đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Lê Thanh T tiền Việt Nam là 400.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh T và Huỳnh Ngô A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/01/2022, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thanh T và Huỳnh Ngô A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 05/01/2022, tại phòng trọ số 6 nhà trọ Thiên An thuộc khóm 3, phường X 1, thành phố H, Lê Thanh T đang có hành vi cất giấu bất hợp pháp 20 (Hai mươi) đoạn ống mủ nhựa màu trắng sọc xanh, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi ma túy chưa xác định T lượng dưới chân giường ngủ trong phòng trọ do T thuê thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ: 19 (mười chín) đoạn ống mủ nhựa màu trắng sọc xanh, hàn kín hai đầu bên trong mỗi đoạn đều có chứa chất bột rắn màu trắng nghi ma túy chưa xác định T lượng; 01 (một) đoạn ống mủ nhựa màu trắng sọc xanh, hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất bột rắn màu trắng nghi ma túy chưa xác định T lượng

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 25/KL-KTHS ngày 07/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận:

“Tinh thể rắn chứa trong 19 (mười chín) đoạn ống mủ nhựa màu trắng sọc xanh hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,200 gam loại Heroin.

Tinh thể rắn chứa trong 01 (một) đoạn ống mũ nhựa màu trắng sọc xanh được hàn kín bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,096 gam loại Methamphetamine”.

Qua điều tra, Lê Thanh T khai nhận số ma túy bị bắt quả tang là của T, trong đó 19 (mười chín) đoạn Heroin, T mua của một người thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang với giá 600.000 đồng và 01 (một) đoạn ma túy còn lại (loại ma túy đá) được một người bạn không rõ họ tên cho vào ngày 04/01/2022 mục đích để sử dụng.

Căn cứ lời thừa nhận của bị cáo, Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/01/2022, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh Lê Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,296 gam (trong đó 0,200 gam loại Heroin và 0,096 gam loại Methamphetamine).

Ngoài ra, Lê Thanh T, Huỳnh Ngô A còn khai nhận trước khi bị bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cả 2 đã thực hiện hành vi bán trái phép ma túy nhiều lần cho Nguyễn Z, Phan V và Bùi Văn M để có lượng ma túy dư ra cho T sử dụng và có tiền chi tiêu cuộc sống hàng ngày của gia đình.Trong đó Lê Thanh T trực tiếp bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng Bùi Văn M, Phan V, Nguyễn Z tổng cộng 09 lần; Huỳnh Ngô A bán hộ ma túy cho Lê Thanh T 04 lần, trong đó bán cho Phan V 02 lần và bán cho Nguyễn Z 02 lần.

Căn cứ vào vào khai nhận của các bị cáo, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Huỳnh Ngô A đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

a/ ...

i/ Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) …;

b) Phạm tội 02 lần trở lên…”;

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, nó đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm T đến sự ổn định và phát triển của xã hội.

Hiện nay, tình trạng tàng trữ ma túy để sử dụng và mua bán trái phép trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với tính chất hết sức phức tạp. Nhằm để ổn định tình hình chính trị tại địa phương, góp phần vào công cuộc phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo Huỳnh Ngô A có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án.

Bị cáo Lê Thanh T có nhân thân xấu, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đáng ra qua lần bị xử lý trên, bị cáo phải biết ăn năn, hối cải, ra sức lao động để có cuộc sống lành mạnh hơn và sống hòa đồng cùng với mọi người, cùng cộng đồng chung tay xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa. Nhưng bị cáo không làm được điều đó mà lại tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả 2 bị cáo đều được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện, tự thú khai báo về hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy đã thực hiện trước đó, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả 2 bị cáo không có.

Trong 04 lần bán trái phép chất ma túy cho Phan V vả Nguyễn Z, các bị cáo thực hiện tội phạm dưới dạng đồng phạm nhưng thuộc dạng đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội từng bị cáo gây ra để quyết định mức hình phạt tương xứng.

Bị cáo Lê Thanh T là người khởi xướng việc mua bán trái phép chất ma túy và bị cáo đã kêu bị cáo Huỳnh Ngô A trực tiếp giao hộ ma túy cho các đối tượng mua ma túy để sử dụng và sau đó bị cáo nhận tiền do bị cáo Huỳnh Ngô A đưa lại. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Đối với bị cáo Huỳnh Ngô A thực hiện tội phạm với vai trò giúp sức, bị cáo đã trực tiếp giao ma túy bán cho các đối tượng mua sử dụng theo sự chỉ dẫn của bị cáo Lê Thanh T. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý nghiêm.

[6 ] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho các bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như các bị cáo.

Đối với việc Lê Thanh T khai nhận số lượng ma túy loại Heroin bị bắt quả tang, mua của một người thanh niên không rõ họ tên cụ thể tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang với giá 600.000 đồng và số lượng ma túy loại Methamphetamine được một người bạn không rõ họ tên cho T vào ngày 04/01/2022, mục đích để sử dụng. Qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với số lượng ma túy loại Heroin và Methamphetamine bị bắt quả tang, T cất giấu ở phòng trọ số 6, nhà trọ Thiên An để sử dụng. Số lượng ma túy này Huỳnh Ngô A không biết, do đó không có cơ sở xem xét xử lý Ái với vai trò đồng phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với các đối tượng Nguyễn Z, Phan V, Bùi Văn M là những đối tượng mua ma túy chỉ để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất nên hành vi của các đối tượng không cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra đã đề nghị Công an thành phố H xử lý hành chính các đối tượng nêu trên nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với việc Lê Thanh T thực hiện hành vi Cướp giật tài sản vào ngày 04-05/12/2021 tại thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang và đồng phạm thực hiện tội phạm ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Hiện vụ việc đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, thụ lý giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý hành vi này đối với Lê Thanh T.

Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Z 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng - hồng, đã qua sử dụng vì không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa không phát sinh gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với số lượng ma túy, điện thoại và các vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo gồm: 01 (một) túi niêm phong ghi “Niêm phong số 14/1, ngày 06/01/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Sóc, Trương Minh Vũ, Đinh Nhựt Dũng và Lê Thanh T, 01 (một) túi niêm phong ghi “Niêm phong số 14/2, ngày 06/01/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Sóc, Trương Minh Vũ, Đinh Nhựt Dũng và Lê Thanh T, 01 (một) chai nhựa màu hồng, nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mủ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế, 01 (một) chai nhựa màu trắng (chai dùng đựng nước ngọt, hiệu STING), nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mủ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MI màu xanh, đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy và nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp pháp luật.

Đối với số tiền Việt Nam là 400.000 đồng là của Lê Thanh T do làm thuê mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp pháp luật.

Về khoản thu lợi bất chính của các bị cáo trong các lần bán trái phép chất ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo khai nhận số tiền thu lợi bất chính từ các lần bán trái phép chất ma túy không biết là bao nhiêu vì việc mua bán trái phép chất ma túy để có ma túy dư ra cho T sử dụng và đã chi tiêu vào cuộc sống hang ngày của gia đình hết, do đó không có căn cứ để buộc các bị cáo nộp lại phần tiền thu lợi bất chính này để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo sống bằng nghề làm thuê không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 02 (hai) năm tù.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 09 (chín) năm tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai tội là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: Ngày 05/01/2022.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngô A (tên gọi khác: Mén) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngô A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong ghi “Niêm phong số 14/1, ngày 06/01/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Sóc, Trương Minh Vũ, Đinh Nhựt Dũng và Lê Thanh T, 01 (một) túi niêm phong ghi “Niêm phong số 14/2, ngày 06/01/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Văn Sóc, Trương Minh Vũ, Đinh Nhựt Dũng và Lê Thanh T, 01 (một) chai nhựa màu hồng, nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mủ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế, 01 (một) chai nhựa màu trắng (chai dùng đựng nước ngọt, hiệu STING), nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một đoạn ống mủ nhựa và một đoạn ống thủy tinh tự chế.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MI màu xanh, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Lê Thanh T tiền Việt Nam là 400.000 đồng.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2022).

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thanh T và Huỳnh Ngô A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/6/2022). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ