- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bội T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Bội T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 9 năm 2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬNN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2022/HS-ST Ngày: 11-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Văn Vô
Ông Đoàn Hồng Hải
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thành – Thư ký Toà án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Bội T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1994 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 67/1/5 đường B, Phường S, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H; con bà: Trần Thu H1; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2021 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: 35/75/29/2 đường L, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 10/9/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần Bội T gọi điện thoại số 0779578865 cho một người phụ nữ tên H (không rõ lai lịch) để mua ma túy. H hẹn T đến đến ngã ba Trần Tuấn Khải – Võ Văn Kiệt, Phường K, Quận N để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 59L2-701.19 từ nhà tại địa chỉ số 67/1/5 đường B, Phường S, Quận N đi đến giao lộ Trần Tuấn Khải–Võ Văn Kiệt, Phường K, Quận N gặp H để mua ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua xong, T cất ma túy vào trong túi đeo chéo màu đen trước ngực và tiếp tục điều khiển xe đi mua bóng đèn tại cửa hàng bán đồ điện trên đường T, Phường B1, Quận N. Đến khoảng 19 giờ 19 phút, cùng ngày, T điều khiển xe trên đường về nhà, khi đi qua chốt phòng dịch Covid 19, tại trước số 04 đường B, Phường K, Quận N thì bị lực lượng Công an phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi đeo chéo màu đen trước ngực của T có 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai là ma túy đá mua để sử dụng nên lực lượng Công an đã đưa T cùng vật chứng về Công an Phường K, Quận N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N, Trần Bội T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Bội T và hình dấu Công an Phường K, Quận N là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3772g (không phẩy ba bảy bảy hai gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói niêm phong số 1134/2021/Q5 bên ngoài có chữ ký Giám định viên Nguyễn Xuân Sang và cán bộ điều tra Trần Đình Văn); 01 (một) xe mô tô mang biển số 59L2-701.19, số khung: RLHJA3907HY626308, số máy: JA39E0601429; 01 (một) túi đeo màu đen; 01 (một) điện thoại di động iphone màu vàng đã cũ (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được tình trạng bên trong máy); 01 (một) điện thoại di động iphone màu xám đã cũ (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được tình trạng bên trong máy).
Tại bản Kết luận giám định số 4985/KLGĐ-MT ngày 14/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau: 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Bội T và hình dấu Công an Phường K, Quận N là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3772g (không phẩy ba bảy bảy hai gam), loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 06/CT-VKSQ5 ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Bội T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Bội T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Bội T với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo Trần Bội T không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa công khai, bị cáo Trần Bội T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Trần Bội T đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,3772g (không phẩy ba bảy bảy hai gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Đối với đối tượng tên H đã bán ma túy cho bị cáo T, hiện chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N tiếp tục truy xét, khi nào có đủ cơ sở sẽ tiếp tục xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Bội T và hình dấu Công an Phường K, Quận N là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3772g (không phẩy ba bảy bảy hai gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói niêm phong số 1134/2021/Q5 bên ngoài có chữ ký Giám định viên Nguyễn Xuân Sang và cán bộ điều tra Trần Đình Văn); 01 (một) túi đeo màu đen. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.
Xét 01 (một) xe mô tô mang biển số 59L2-701.19, số khung: RLHJA3907HY626308, số máy: JA39E0601429 do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên chủ sở hữu, ông T1 khai đã bán chiếc xe cho một thanh niên mua bán xe cũ, không làm thủ tục sang tên, bị cáo T khai mua chiếc xe trên từ cửa hàng bán xe gắn máy, không nhớ rõ địa chỉ và không có làm hợp đồng mua bán chi giao xe và giấy chứng nhận đăng ký xe. Xét chiếc xe bị cáo T có được không rõ nguồn gốc và bị cáo khai có giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng không có xuất trình được do không nhớ để đâu và cũng không có các giấy tờ gì khác có liên quan đến việc mua bán xe, bên cạnh đó bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma túy nên cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước;
Xét 01 (một) điện thoại di động iphone màu vàng đã cũ (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được tình trạng bên trong máy) là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên xem xét trả lại cho bị cáo.
Xét 01 (một) điện thoại di động iphone màu xám đã cũ (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được tình trạng bên trong máy) là tài sản cá nhân của bị cáo, sử dụng liên lạc mua ma túy nên xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Bội T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 9 năm 2021.
Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c Khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Bội T và hình dấu Công an Phường K, Quận N là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3772g (không phẩy ba bảy bảy hai gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói niêm phong số 1134/2021/Q5 bên ngoài có chữ ký Giám định viên Nguyễn Xuân Sang và cán bộ điều tra Trần Đình Văn); 01 (một) túi đeo màu đen.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động iphone màu xám đã cũ (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được tình trạng bên trong máy).
Trả lại cho bị cáo Trần Bội T: 01 (một) điện thoại di động iphone màu vàng đã cũ (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được tình trạng bên trong máy).
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe mô tô mang biển số 59L2-701.19, số khung: RLHJA3907HY626308, số máy: JA39E0601429 trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TpHCM; - Sở Tư pháp TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận N; - Cơ quan CSĐT Công an Quận N; - Phòng PV 06 – Công an TPHCM; - Bộ phận THA HS Tòa án Quận N; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận N; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu Hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |