vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: các bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L phạm tội “Trốn khi đang bị áp giải”.

[2]. Về điều luật áp dụng và hình phạt: [2.1]. Đối với bị cáo Vũ Song H: căn cứ điểm b khoản 2 Điều 386, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38, 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 1, Điều 4 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Song H và đồng phạm bị truy tố về tội “Trốn khi đang bị áp giải” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 386 của BLHS năm 2015 - phạm tội t…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: các bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L phạm tội “Trốn khi đang bị áp giải”.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HS-ST.
Ngày: 24/02/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Võ Xuân Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Vũ Thị Hảo

- Bà Trần Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thanh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tất Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14A/2022/QĐXXST-HS ngày 14/02/2022 đối với các bị cáo:

Vũ Song H (tên thường gọi: Hổ), sinh ngày 14 tháng 02 năm 1998; tại: tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Tổ 5, Ấp N, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đ, sinh năm: 1972 (còn sống) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1975 (còn sống); gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; tiền án: có 01 tiền án. Ngày 19/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2019. Ngày 12/11/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: không; nhân thân: xấu. Ngày 23/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 05/QĐ-TA ngày 23/6/2016). Ngày 09/01/2021, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và ra đầu thú. Đến ngày 20/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2021 (Bản án số 47/2021/HSST ngày 20/4/2021); Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 22/01/2022 theo Quyết định bắt, tạm giam số 41/2022/HSST-QĐBTG ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cho đến nay (có mặt).

Trương Thị Phương L (tên thường gọi: không có), sinh ngày 25 tháng 12 năm 1991; tại: tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: Ấp S, xã T, thành phố X, tỉnh Bình Phước. Nơi cư trú: Ấp B1, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T, sinh năm: 1955 (còn sống) và bà Phan Thị H, sinh năm: 1962 (còn sống); gia đình bị cáo có 07 chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình, chưa có chồng, có 01 con sinh ngày 08/5/2021; tiền án, tiền sự: không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai (xin vắng mặt).

Địa chỉ: đường Nguyễn Tất Thành, Khu phố H, thị trấn V, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật là Thượng tá Trần Anh C – Chức vụ: Trưởng Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai.

- Ông Đậu Đình T, sinh năm: 1972 (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 10, ấp S, xã B, huyện B, tỉnh Đồng Nai.

* Người làm chứng: ông Nguyễn Thế B, sinh năm: 1991 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 11, Khu phố B, thị trấn V, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

* Người giám định: Hội đồng giám định pháp y Trung tâm pháp y Đồng Nai

- BSCKI Võ Thành H – Giám định viên (không triệu tập).

- BSCKI Nguyễn G – Giám định viên (không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 09/01/2021, Vũ Song H đột nhập vào nhà anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1990, trú tại: Ấp N, xã V, huyện C lấy trộm 02 máy hàn điện; 02 máy khoan điện; 01 máy cắt sắt; 01 máy mài cầm tay; 01 cuộn dây điện dài khoảng 20m có hai lõi đồng đường kính 2,5mm, có bọc nhựa hai lớp màu xám; 01 cuộn dây điện dài khoảng 25m, có hai lõi đồng, đường kính 5.0mm, bọc nhựa hai lớp màu xanh mang đi cất giấu tại đám ruộng hoang cách nhà anh V khoảng 100m. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, anh V phát hiện bị mất trộm tài sản nên trình báo Công an xã V, huyện C. Đến 22 giờ 30 phút ngày 09/01/2021, Vũ Song H đến Công an xã V, huyện C đầu thú và giao nộp toàn bộ tài sản trộm cắp. Công an xã V lập hồ sơ chuyển H cùng vật chứng vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền.

Lúc 04 giờ ngày 10/01/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu phân công Điều tra viên Nguyễn Đức S tiếp nhận hồ sơ, đối tượng cùng tang vật từ Công an xã V, huyện C. Đồng thời ra quyết định tạm giữ đối với Vũ Song H. Quyết định tạm giữ được giao cho H lúc 4 giờ 10 phút cùng ngày. Đến khoảng 08 giờ, anh Nguyễn Thế B cán bộ điều tra được phân công sử dụng xe mô tô cá nhân biển số 60B9-510.90 chở Vũ Song H (bị còng tay) từ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đến Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu. Trước khi đi H mượn điện thoại của anh B gọi cho bạn gái là Trương Thị Phương L đem tiền đến để H ký gửi sử dụng trong khi bị tạm giữ. Đến khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, khi anh B chở H đến khu vực đoạn đường bê tông vắng người thuộc Khu phố M, thị trấn V, huyện C thì gặp L điều khiển xe mô tô hiệu Vision biển số 60B9-679.22 chạy đến. H xin anh B cho gặp để nói chuyện với L được anh B đồng ý. Lúc này H phát hiện còng bên tay trái lỏng nên H rút tay ra khỏi còng rồi bất ngờ bỏ chạy về hướng xe mô tô L dựng gần đó với mục đích bỏ trốn. Anh B đuổi theo vật ngã, khống chế, đè H vào lề đường bê tông làm xe mô tô của L ngã xuống mặt đường. H chống trả làm anh B bị thương ở tay, chân. Thấy vậy, L chạy tới ôm, kéo anh B ra, lúc này H cắn vào chân anh B đang để gần miệng H rồi chạy đến dựng xe mô tô biển số 60B9-679.22 nổ máy điều khiển chạy trốn. Anh B tiếp tục đuổi theo H thì bị L kéo lại nên đã báo cáo sự việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu. H điều khiển xe mô tô biển số 60B9-679.22 đến khu vực xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai rồi gọi điện thoại báo cho L biết nơi lẩn trốn và kêu L đến đem xe mô tô đi cầm, lấy tiền tiêu xài. L đến đem xe mô tô biển số 60B9-679.22 đi cầm cho anh Đậu Đình T được 15.000.000 đồng rồi H và L đến tỉnh Bình Dương thuê phòng. Ngày 22/01/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu phối hợp với Cục C02 - Bộ Công an và Công an phường H, thành phố M, tỉnh Bình Dương bắt được Vũ Song H, Trương Thị Phương L để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

* Tang vật, tài sản tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 60B9-679.22 do Vũ Song H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Đối với còng số 8, H đã tháo vứt bỏ trên đường bỏ trốn nên không thu hồi được.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0471/TgI/2021 ngày 02/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Thế B:

- Vết biến đổi sắc tố da khuỷu tay phải kích thước 04 x 0,7cm. Tỷ lệ 01%;

- Sẹo gối phải kích thước 2,5 x 5cm. Tỷ lệ 02%;

- Sẹo gối phải kích thước 1,5 x 01 cm. Tỷ lệ 02%;

- Sẹo gối phải kích thước 1,5 x 1,2cm. Tỷ lệ 02%;

- Sẹo ngón 1 bàn chân phải kích thước 1,5 x 0,5cm. Tỷ lệ 01%

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 08%.

Vật gây thương tích: Vật tày.

* Cáo trạng số 22/CT-VKS-KSHS ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L về tội "Trốn khi đang bị áp giải" theo điểm b khoản 2 Điều 386 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (từ đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2017).

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố, không thay đổi, bổ sung, rút quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo:

- Vũ Song H mức án từ 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 4 (bốn) năm tù;

- Trương Thị Phương L mức án từ 01 năm 08 tháng tù đến 02 năm tù;

* Về xử lý vật chứng: đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 60B9-679.22 màu trắng do Vũ Song H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Đối với còng số 8 bị H vứt bỏ trên đường bỏ trốn, không thu hồi được nên đề nghị không xem xét.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Nguyễn Thế B không yêu cầu Vũ Song H, Trương Thị Phương L bồi thường tổn thất do sức khỏe bị xâm hại nên đề nghị không xem xét.

- Công an huyện Vĩnh Cửu không yêu cầu H bồi thường việc làm mất còng số 8 nên đề nghị không xem xét.

- Ông Đậu Đình T yêu cầu Vũ Song H, Trương Thị Phương L trả lại 15.000.000 đồng tiền nhận cầm cố xe mô tô biển số 60B9-679.22 màu trắng. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 316 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tuyên buộc Vũ Song H, Trương Thị Phương L có trách nhiệm liên đới trả lại ông Đậu Đình T số tiền 15.000.000 đồng nêu trên.

* Các bị cáo H, L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo, đương sự được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến tự bào chữa của bị cáo Vũ Song H: không có ý kiến tranh luận.

* Ý kiến tự bào chữa của bị cáo Trương Thị Phương L: không có ý kiến tranh luận.

* Bị cáo Vũ Song H nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức và hối hận về hành vi của mình. Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm đoàn tụ với gia đình.

* Bị cáo Trương Thị Phương L nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức và biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận về hành vi của mình. Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm đoàn tụ với gia đình, làm việc, nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Đậu Đình T có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công an huyện C, người làm chứng ông Nguyễn Thế B xin vắng mặt. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về tội danh: trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện: Vũ Song H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu quyết định tạm giữ về hành vi trộm cắp tài sản. Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 10/01/2021, tại Khu phố M, thị trấn V, huyện C, tỉnh Đồng Nai, trong khi đang bị áp giải đến cơ sở giam giữ. Lợi dụng đoạn đường vắng, còng số 8 bị lỏng, Vũ Song H đã rút tay ra khỏi còng rồi bỏ chạy. Ông B đuổi theo, vật, đè, khống chế H. H chống trả làm ông B bị thương ở tay, chân. L ôm, kéo ông B. H cắn vào chân ông B và chạy đến dựng xe mô tô biển số 60B9-679.22 nổ máy điều khiển bỏ trốn. Ông B tiếp tục đuổi theo H thì bị L kéo lại nhưng không kịp. Sau đó, bị cáo L còn giúp bị cáo H cầm xe mô tô biển số 60B9-679.22 để có tiền và cùng bị cáo H bỏ trốn cho đến khi bị bắt.

. Xét thấy, các bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc bị cáo H đang bị áp giải (do thực hiện hành vi trộm cắp tài sản) mà bỏ trốn là vi phạm pháp luật, nhưng để trốn tránh việc chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vì tình cảm cá nhân, các bị cáo đã lợi dụng sự chủ quan, thiếu cảnh giác của cán bộ áp giải, đến đoạn đường vắng đã bỏ trốn nhưng bị khống chế thì dùng vũ lực chống đối cán bộ áp giải và cùng nhau bỏ trốn, sau đó bị bắt giữ. Như vậy, hành vi của các bị cáo Vũ Song H và và Trương Thị Phương L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn khi đang bị áp giải” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 386 của Bộ luật Hình sự năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố. Trong đó, bị cáo L phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo H.

. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét:

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: hành vi của các bị cáo được quy định là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự đúng đắn của hoạt động tư pháp và thi hành án, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây bất bình trong quần chúng nhân dân tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo cố ý cùng nhau thực hiện. Trong đó bị cáo H là người chủ mưu, chống trả quyết liệt nên phải chịu trách nhiệm cao nhất. Bị cáo L thực hiện tội phạm với vai trò giúp sức cho bị cáo H nên cũng phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức.

. Về nhân thân các bị cáo: Vũ Song H có nhân thân xấu. Ngày 23/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Ngày 09/01/2021, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và ra đầu thú. Đến ngày 20/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2021. Bị cáo Trương Thị Phương L có nhân thân tốt, tại thời điểm phạm tội chưa có tiền án, tiền sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tố tụng các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2017; riêng bị cáo Trương Thị Phương L phạm tội khi đang mang thai, mới phạm tội lần đầu, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2017.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Vũ Song H có 01 tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2017; bị cáo Trương Thị Phương L không có tình tiết tăng nặng;

. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự năm 2017 quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 60B9-679.22 màu trắng do Vũ Song H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Đối với còng số 8 bị H vứt bỏ trên đường bỏ trốn, không thu hồi được nên không xem xét (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).

. Về trách nhiệm dân sự:

- Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 316 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc Vũ Song H, Trương Thị Phương L có trách nhiệm liên đới trả lại anh Đậu Đình T số tiền 15.000.000 đồng cầm cố tài sản là xe mô tô biển số 60B9-679.22, trong đó phần của mỗi bị cáo là 7.500.000 đồng.

- Anh Nguyễn Thế B không yêu cầu Vũ Song H, Trương Thị Phương L bồi thường do sức khỏe bị xâm hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Công an huyện C không yêu cầu bị cáo H bồi thường việc làm mất còng số 8 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Đối với Nguyễn Thế B được phân công áp giải Vũ Song H sang Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam để thi hành quyết định tạm giữ nhưng chủ quan để Vũ Song H bỏ trốn nên đề nghị Công an huyện C làm rõ, xử lý theo quy định.

. Đối với Vũ Song H có hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Văn V đã được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử trong vụ án khác (Bản án số 47/2021/HSST ngày 20/4/2021) nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 22, điểm a, c, f khoản 1 Điều 23, Điều 26, 27 và Điều 47 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1 mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 375.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 45, 46, 106, 250, 254, 255, 259, 260, 262, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333, 336, 337, 339 và Điều 509 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 1, Điều 4, khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

[1]. Tuyên bố: các bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L phạm tội “Trốn khi đang bị áp giải”.

[2]. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

[2.1]. Đối với bị cáo Vũ Song H: căn cứ điểm b khoản 2 Điều 386, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38, 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 1, Điều 4 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Bị cáo Vũ Song H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

[2.2]. Đối với bị cáo Trương Thị Phương L: căn cứ điểm b khoản 2 Điều 386, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38, 50, điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 54, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 1, Điều 4 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: bị cáo Trương Thị Phương L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 60B9-679.22 màu trắng do Vũ Song H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Đối với còng số 8 bị H vứt bỏ trên đường bỏ trốn, không thu hồi được nên không xem xét (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

[4]. Về biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự:

[4.1]. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 316 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc Vũ Song H, Trương Thị Phương L có trách nhiệm liên đới trả lại anh Đậu Đình T số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng, trong đó phần của mỗi bị cáo là 7.500.000 (bảy triệu năm trăm ngàn) đồng.

[4.2]. Ông Nguyễn Thế B không yêu cầu Vũ Song H, Trương Thị Phương L bồi thường do sức khỏe bị xâm hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4.3]. Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai không yêu cầu Hồng bồi thường việc làm mất còng số 8 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4.4]. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hánh án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền nêu tại mục [4], hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[4.5]. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[5]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 22, điểm a, c, f khoản 1 Điều 23, Điều 26, 27 và Điều 47 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1 mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 375.000 (ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: bị cáo Vũ Song H, Trương Thị Phương L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Đậu Đình T được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ