vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T và Lê Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao Nguyễn Văn T cho UBND xã Phương Khoan, huyện Sông Lô giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trong trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tình và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T và Lê Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HS-ST
Ngày: 29 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ - TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Sơn và ông Lê Trung.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.

Các ngày 25 và 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2022/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở; Thôn Đồng Tâm, xã Phương Khoan, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn B, (đã chết) và bà Tạ Thị M, (đã chết); vợ Nguyễn Thị D, sinh năm 1965; có 03 con, lớn sinh năm 1987 nhỏ sinh năm 1990. Tiền án, tiền sự: Không. Tiền sử: Năm 2007 phạm tội đánh bạc bị TAND huyện Lập Thạch xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/3/2022 đến ngày 14/3/2022 được thay bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

2. Vũ Văn S, sinh năm 1955; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở; Thôn Đoàn Kết, xã Đông Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông Vũ Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); vợ Hà Thị Th, sinh năm 1957; có 03 con, lớn sinh năm 1977, nhỏ sinh năm 1982. Tiền án, tiền sự: Không. Tiền sử: Năm 2010 phạm tội đánh bạc bị TAND huyện Sông Lô xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo, năm 2012 phạm tội đánh bạc bị TAND huyện Sông Lô xử phạt 01 năm 03 tháng tù, năm 2015 phạm tội đánh bạc bị TAND huyện Sông Lô xử phạt 02 năm tù bị cáo đã chấp hành xong, được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/3/2022 đến ngày 14/3/2022 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

3. Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở; Thôn Đồng Tâm, xã Phương Khoan, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa lớp 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Tạ Thị M (đã chết); vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; có 02 con, lớn sinh năm 1991 nhỏ sinh năm 1992. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/3/2022 đến ngày 14/3/2022 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

4. Lê Hữu L, sinh năm 1958; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: thôn Dân Chủ, xã Phương Khoan, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa lớp 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông Lê Hữu Ch (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); Vợ Tạ Thị V, sinh năm 1960; có 04 con, lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1989. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/3/2022 đến ngày 14/3/2022 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 ngày 11 tháng 3 năm 2022, Nguyễn Văn T, đang ở nhà tại thôn Đồng Tâm, xã Phương Khoan, huyện Sông Lô thì có Vũ Văn S trú tại xã Đồng Quế, huyện Sông Lô; Lê Hữu L và Nguyễn Văn T đều cư trú tại xã Phương Khoan, huyện Sông Lô đến chơi. Trong lúc đang ngồi uống nước, T nói “trời mát anh em mình chơi tý” ý là rủ đánh bạc ăn tiền và mọi người đều đồng ý, sau đó cả nhóm đi lên tầng 2 nhà T thấy có chiếc chiếu nhựa trải sẵn ở nền nhà và ở giữa có sẵn bộ bài Tú lơ khơ 36 quân từ A (Át) đến 9. Các đối tượng ngồi lên chiếu thống nhất đánh bạc bằng hình thức chơi bài ba cây ăn tiền, mức đặt cửa thắng thua thấp nhất là 50.000đ. Các đối tượng sử dụng 36 quân bài từ A (Át) đến 9, mỗi ván bài người chơi được chia 03 quân bài rồi cộng lại tính tổng số điểm theo hàng đơn vị ai cao hơn người đó thắng, ai được 10 điểm thì cầm chương (nhà cái), nếu số điểm người chơi so với người cầm chương bằng nhau thì được tính theo chất (Rô, Cơ, Tép, Bích) của quân bài, mỗi ván người thua phải trả cho người cầm chương, ngược lại người cầm chương thua phải trả cho người chơi tuỳ theo mức tiền đặt tại cửa của người chơi, các đối tượng không phải nộp tiền (tiền hồ) cho ai để được đánh bạc. Tình là người chia ván bài đầu tiên, tiếp sau lần lượt là những người chơi khác được 10 điểm thì cầm chương. Cả nhóm đánh bạc đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Sông Lô phát hiện bắt quả tang 04 đối tượng, tang vật thu giữ tại chiếu bạc là số tiền 8.100.000đ; 36 quân bài Tú lơ khơ từ A (Át) đến 9; 01 chiếc chiếu nhựa cũ và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và số tiền để sử dụng đánh bạc như sau: Nguyễn Văn T sử dụng 1.300.000đ; Vũ Văn S sử dụng 3.000.000đ; Nguyễn Văn T sử dụng 2.000.000đ; Lê Hữu L sử dụng 1.800.000đ. Tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng đánh bạc là 8.100.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKSSL-TA ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Tình, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T, Lê Hữu L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Lê Hữu L, Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Vũ V Sơn từ 10 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ vào thời gian bị tạm giữ.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 58 và Điều 36, Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 10 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày UBND xã Phương Khoan nhận được Quyết định Thi hành án và bản án được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 11/3/2022 đến ngày 14/3/2022 (03 ngày), 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Tự.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 58 và Điều 36, Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Lê Hữu L từ 10 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày UBND xa Phương Khoan nhận được Quyết định Thi hành án và bản án được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 11/3/2022 đến ngày 14/3/2022 (03 ngày), 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lợi.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Các bị cáo đồng ý tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

Các bị ̣cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất cải tạo tại địa phương để các bị ̣cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T và Lê Hữu L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai và bản kiểm điểm của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11 tháng 3 năm 2022, tại nhà ở của Nguyễn Văn T ở thôn Đồng Tâm, xã Phương Khoan, huyện Sông Lô, Công an huyện Sông Lô phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T và Lê Hữu L cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây ăn tiền. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 8.100.000đ (tám triệu một trăm nghìn đồng). Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T và Lê Hữu L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Do đó bản cáo trạng số: 22/CT-VKSSL-TA ngày 12/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

. Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương đó cùng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác đồng thời làm gia tăng các tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội của Đảng và Nhà nước đang loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung đối với người khác.

Đối với Nguyễn Văn T sử dụng nhà của mình để cho các đối tượng đánh bạc. Quá trình điều tra xác định Tình không có hành vi tổ chức đánh bạc, không cầm cố tài sản và không thu tiền gì của các đối tượng tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với T về hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc là có căn cứ.

. Xét về nhân thân, tính chất mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như vị trí, vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với Nguyễn Văn T là người giữ vai trò chính là người khởi xướng, rủ S, L và T đánh bạc ăn tiền và trực tiếp tham gia đánh bạc, bị cáo thực hiện hành vi với vai trò đồng phạm và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng có tiền sử năm 2007 bị Tòa án nhân dân nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “ Đánh bạc” đã được xóa án tích, quá tình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và có bố mẹ đẻ bị cáo tham gia dân công hỏa tuyến trong kháng chiến chống Ph và trong quá trình xét xử bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ thể hiện hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn bản thân mắc nhiều bệnh nền đang hưởng chế độ bảo trợ xã hội và vợ bị cáo bị tai biến thường ngày phải có người trông nom giúp đỡ. Ngoài lần vi phạm pháp luật đó ra thì bị cáo luôn thực hiện tốt nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú và được chính quyền địa phương xác nhận. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và có đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại mục a phần 2 điểm a khoản 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định một thời gian thử thách dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương như vậy cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

Bị cáo Vũ Văn Sơn không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và tham gia với vai trò đồng phạm, thực hiện hành vi phạm tội tích cực. Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người đang thờ cúng Liệt sỹ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần (03 lần) bị Tòa án huyện Sông Lô xử phạt về các hành vi đánh bạc, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy mức hình phạt của bị cáo Sơn phải nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Cần xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Hữu L không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và số tiền tham gia đánh bạc không lớn. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo T và bị cáo L đều có bố mẹ đẻ tham gia dân công hỏa tuyến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nên các bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét đến quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự. Xét thấy không cần thiết buộc các bị cáo T và L phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xử phạt các bị cáo mức án cải tạo không giam giữ cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải khấu trừ thu nhập của các bị cáo trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước, do vậy miễn việc khấu trừ thu nhập cho các bị cáo T và L là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung, xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định các bị cáo T, S, T và L đều lao động tự do, thu nhập không ổn định nhưng để nâng cao tính răn đe. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với các bị cáo để sung quỹ Nhà nước.

. Về xử lý vật chứng: 36 quân bài tú lơ khơ từ A đến 9 và 01 chiếc chiếu nhựa cũ là phương tiện các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 8.100.000 là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

. Về án phí: Các bị cáo T, S, T và L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T và Lê Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao Nguyễn Văn T cho UBND xã Phương Khoan, huyện Sông Lô giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trong trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Sơn.

Phạt bị cáo Vũ Văn S 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Thời hạn tạm giữ của bị cáo từ ngày 11/3/2022 đến 14/3/2022 được trừ vào thời hạn chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các Điều 36, 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo T và L.

Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian tạm giữ từ ngày 11/3/2022 đến ngày 14/3/2022 (03 ngày) được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Phương Khoan, huyện Sông Lô, nhận được quyết định thi hành án và bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Phạt bị cáo Lê Hữu L 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian tạm giữ từ ngày 11/3/2022 đến ngày 14/3/2022 (03 ngày) được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Phương Khoan, huyện Sông Lô, nhận được quyết định thi hành án và bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Giao Nguyễn Văn T và Lê Hữu L cho Uỷ ban nhân dân xã Phương khoan, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo T và L có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Phương Khoan trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Phạt các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T và Lê Hữu L, mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 36 quân bài tú lơ khơ từ A đến 9 và 01 chiếc chiếu nhựa cũ. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.100.000 đồng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2022 giữa cơ quan điều tra Công an với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô).

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T và Lê Hữu L mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ