- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Văn Ph - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình S năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình S; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình S
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LM TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2022/HS-ST Ngày: 28/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LM, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa Phên tòa: Ông Châu Thanh Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Em
Ông Âu Cần Đông
- Thư ký Phên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã LM, tỉnh Hậu Giang tham gia Phên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 11 năm 2022 và ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã LM, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình S thụ lý số: 26/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1967, tại thị xã LM, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp LT, xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị M; bị cáo có vợ và 03 con; Tiền S: không.
Tiền án: 01. Ngày 18/6/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã LM, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm, tuyên phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng, buộc nộp lại số tiền dùng vào việc phạm tội là 800.000 đồng, án phí hình S sơ thẩm phải nộp là 200.000 đồng về “Tội đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình S năm 2015 (bản án số 18/2020/HS-ST). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ vào ngày 22/7/2021 nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, chưa nộp lại số tiền dùng vào việc phạm tội và chưa nộp án phí sơ thẩm.
Nhân thân: Ngày 01/7/2019, bị Công an thị xã LM, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”, đã đóng phạt xong vào ngày 05/7/2019.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại Phên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Lê Thị Tr, sinh năm: 1969. (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp LT, xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
Nguyễn Văn S, sinh năm: 1969 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp LT, xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
Trình Văn N, sinh năm: 1971 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp LT, xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1999 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp LT, xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
Lê Văn T, sinh năm: 1980 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm Tân Thành A, phường 2, thị xã NN, tỉnh Sóc Trăng.
Lê Quốc C, sinh năm: 1981. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm Tân Thành A, phường 2, thị xã NN, tỉnh Sóc Trăng.
Lưu Văn N, sinh năm: 1975 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp TT, xã TP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
Lưu Văn N, sinh năm: 1973 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp TT, xã TP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
- Người làm chứng: Cao Chí V, sinh năm: 1965 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 05 phút ngày 16/7/2022, Công an xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang tiến hành kiểm tra, phát hiện quả tang tại quán nước của bà Lê Thị T thuộc ấp LT, xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang có nhiều đối tượng đang tham gia đánh bạc trái phép ăn thua trực tiếp bằng tiền 02 (hai) sòng bài, dưới hình thức đánh bài Cách tê 06 lá. Các đối tượng gồm:
Tại sòng 1: Nguyễn Văn Ph, Lưu Văn N, Lê Văn T, Lê Quốc C.
Tại sòng 2: Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn S, Trình Văn N, Lưu Văn N.
Qua làm việc, các đối Nguyễn Văn Ph, Lê Văn T, Lê Quốc C, Lưu Văn N, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn S, Trình Văn N và Lưu Văn đã khai nhận có tham gia đánh bạc trái phép tại nhà bà T, cụ thể như sau:
- Nguyễn Văn Ph: khi đi tham gia đánh bạc không mang tiền nhưng được T, C và Nam đồng ý cho Ph chơi thiếu. Ph dự tính sẽ chơi 40.000 đồng nếu thua hết 40.000 đồng sẽ nghỉ chơi. Ph tham gia đánh tại sòng 1 với T, C và N được khoảng 04 vòng bài, tương đương khoảng 15-16 ván bài. Khi Công an vào bắt quả tang thì Ph không ăn không thua. Quá trình làm việc, Ph tự nguyện giao nộp số tiền 40.000 đồng cho Công an xã LP.
- Lê Quốc C: khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 430.000 đồng, sử dụng hết 430.000 đồng vào việc đánh bạc. C tham gia đánh bạc tại sòng 1 với Ph, T và N được khoảng 04 vòng bài, tương đương khoảng 15-16 ván bài. Khi Công an vào bắt quả tang C thắng được số tiền 20.000 đồng, C tự nguyện giao nộp số tiền 450.000 đồng cho Công an.
- Lê Văn T: khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 1.600.000 đồng, sử dụng 600.000 đồng vào việc đánh bạc, nếu thua hết 600.000 đồng thì nghĩ chơi, còn lại 1.000.000 đồng sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. T tham gia đánh tại sòng 1 với Ph, C và N được khoảng 04 vòng bài, tương đương khoảng 15-16 ván bài. Khi Công an vào bắt quả tang thì C thắng được 10.000 đồng. T đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.610.000 đồng cùng với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng-tím, đã qua sử dụng cho Công an.
- Lưu Văn N: khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 70.000 đồng, sử dụng hết 70.000 đồng vào việc đánh bạc. N tham gia đánh tại sòng 1 với Ph, T và C được khoảng 04 vòng bài, tương đương khoảng 15-16 ván bài. Khi Công an vào bắt quả tang N thua số tiền 30.000 đồng, N tự nguyện giao nộp số tiền 40.000 đồng còn lại cùng với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng cho Công an.
- Nguyễn Văn Đ: khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 1.098.000 đồng, sử dụng 98.000 đồng vào việc đánh bạc, nếu thua hết 98.000 đồng thì nghỉ chơi, còn lại 1.000.000 đồng sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Đ tham gia đánh tại sòng 2 với S, N và N được khoảng 04 vòng bài, tương đương khoảng 15-16 ván bài. Khi Công an vào bắt quả tang thì Đ thua số tiền 20.000 đồng. Đ đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.078.000 đồng còn lại cùng với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng cho Công an.
- Lưu Văn N: khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 80.000 đồng, sử dụng hết 80.000 đồng vào việc đánh bạc. N tham gia đánh tại sòng 2 với S, N và Đ được khoảng 04 vòng bài, tương đương khoảng 15-16 ván bài. Khi Công an vào bắt quả tang N ăn được số tiền 20.000 đồng, N tự nguyện giao nộp số tiền 100.000 đồng cho Công an.
- Nguyễn Văn S: khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 50.000 đồng, sử dụng hết 50.000 đồng vào việc đánh bạc. S tham gia đánh bạc tại sòng 2 với N, N và Đ được khoảng 04 vòng bài, tương đương khoảng 15-16 ván bài. Khi Công an vào bắt quả tang S không ăn không thua, S tự nguyện giao nộp số tiền 80.000 đồng cùng với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, loại bấm phím, đã qua sử dụng cho Công an.
- Trình Văn N: khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 130.000 đồng, sử dụng hết 130.000 đồng vào việc đánh bạc. N tham gia đánh tại sòng 2 với N, S và Đ được khoảng 04 vòng bài, tương đương khoảng 15-16 ván bài. Khi Công an vào bắt quả tang N không ăn không thua, N tự nguyện giao nộp số tiền 130.000 đồng cùng với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, loại cảm ứng, đã qua sử dụng cho Công an.
Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc trái phép là 1.528.000 (một triệu năm trăm hai mươi tám nghìn) đồng. Trong đó: số tiền tại sòng 1 là 1.140.000 (một triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng; số tiền tại sòng 2 là 388.000 (ba trăm tám mươi tám nghìn) đồng. Người cung cấp địa điểm đánh bạc, 02 bộ bài Tây và 02 chiếc bàn nhựa, 08 chiếc ghế bằng nhựa cho các đối tượng ngồi tham gia đánh bạc là bà Lê Thị T. Khi cung cấp bài thì bà T có thỏa thuận với các đối tượng đánh bạc, giá mỗi bộ bài Tây là 10.000 đồng/ 01 bộ nhưng chưa thu được tiền thì bị Công an vào bắt.
Quá trình điều tra đã xác định được khi thực hiện hành vi đánh bạc trái phép vào ngày 16/7/2022 thì bị cáo Nguyễn Văn Ph là người đang có tiền án về “Tội đánh bạc”. Cụ thể: vào ngày 18/6/2020, Ph đã bị Tòa án nhân dân thị xã LM xét xử sơ thẩm, tuyên phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng về “Tội đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình S năm 2015. Ngoài ra, Bản án còn tuyên buộc Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình S sơ thẩm và buộc nộp lại số tiền dùng vào việc đánh bạc là 800.000 đồng. Ngày 22/7/2021, Ph chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa chấp hành xong quyết định phạt bổ sung, án phí hình S sơ thẩm và nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên chưa được xóa án tích.
Quá trình điều tra đã thu giữ tiền Việt Nam: 3.543.000 đồng (ba triệu năm trăm bốn mươi ba nghìn) đồng (Ph 40.000 đồng, C 450.000 đồng, T 1.610.000 đồng, N 40.000 đồng, Đ 1.078.000 đồng, N 100.000 dồng, S 50.000 đồng, N 130.000 đồng, T 45.000 đồng).
Tại cáo trạng số 27/CT-VKS-TXLM, ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã LM, tỉnh Hậu Giang quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ph ra trước Tòa án nhân dân thị xã LM, tỉnh Hậu Giang để xét xử về “Tội đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình S năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Phên tòa:
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm “Tội đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình S năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình S (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình S năm 2015.
* Tịch thu tiêu hủy:
- Tại vị trí Sòng 1:
+ 52 (năm mươi hai) lá bài tây, đã qua sử dụng;
+ 04 (bốn) cái nắp chai nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng;
- Tại vị trí Sòng 2:
+ 52 (năm mươi hai) lá bài tây, đã qua sử dụng;
+ 04 (bốn) cái nắp chai nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng;
* Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 1.543.000 đồng dùng vào việc đánh bạc và thu lợi từ việc đánh bạc.
* Trả lại cho Lê Thị T:
- Tại vị trí Sòng 1:
+ 04 (bốn) cái ghế bằng nhựa, màu đỏ đậm, loại ghế có tựa lưng, mỗi cái ghế có thân ghế cao nhất 68 cm, rộng 32.5 cm, dài 50 cm, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái bàn bằng nhựa, màu đỏ đậm, thân bàn cao nhất 51 cm, rộng 43.5 cm, dài 64 cm, đã qua sử dụng;
- Tại vị trí Sòng 2:
+ 02 (hai) cái ghế bằng nhựa, màu đỏ đậm, loại ghế có tựa lưng, mỗi cái ghế có thân ghế cao nhất 68 cm, rộng 32.5 cm, dài 50 cm, đã qua sử dụng;
+ 02 (hai) cái ghế bằng nhựa, màu đỏ, loại ghế có tựa lưng, mỗi cái ghế có thân ghế cao nhất 68 cm, rộng 32.5 cm, dài 50 cm, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái bàn bằng nhựa, màu đỏ, thân bàn cao nhất 51 cm, rộng 43.5 cm, dài 64 cm, đã qua sử dụng;
* Trả lại cho Lê Văn T 1.000.000 đồng.
* Trả lại cho Nguyễn Văn Đ 1.000.000 đồng.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn Ph: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Phên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình S. Quá trình điều tra, truy tố và tại Phên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại Phên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn Đ, Lê Văn T, Lê Quốc C vắng mặt. Người làm chứng Cao Chí V vắng mặt và có yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình S năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
Tại Phên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Ph thừa nhận T bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Trong khoảng 13 giờ 05 phút, ngày 16/7/2022, bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài cách tê 6 lá cùng với Lưu Văn N, Lê Văn T, Lê Quốc C tại quán nước của bà Lê Thị T ở ấp LT, xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang. Tổng số tiền dùng đánh bạc tại sòng bạc này là 1.140.000 đồng, trong đó bị cáo Ph sử dụng 40.000 đồng, N sử dụng 70.000 đồng, T sử dụng 610.000 đồng, C sử dụng 450.000 đồng để đánh bạc. Số tiền này chưa đủ định lượng 5.000.000 đồng, tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi đánh bạc ngày 16/7/2022 thì bị cáo Ph là người đang có tiền án về “Tội đánh bạc”, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, cáo trạng số 27/CT-VKS-TXLM, ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã LM, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ph về “Tội đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình S năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:
Hội đồng xét xử nhận định, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân nảy sinh tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo đã từng 02 lần bị xử lý về hành vi đánh bạc. Do đó, cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo vừa răn đe, vừa giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xử phạt về hành vi đánh bạc.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại Phên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình S năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình S, lời luận tội của Kiểm sát viên, ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình S (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình S năm 2015 chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại Phên tòa.
Về án phí hình S sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã lớn tuổi, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Văn N, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn S, Lê Quốc C, Lê Văn T, Lưu Văn N và Trình Văn N đã có hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc. Do đó, ngày 12/9/2022, Công an thị xã LM đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Lê Thị T đã có hành vi dùng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình cho các đối tượng đánh bạc nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do đó, ngày 12/9/2022, Công an thị xã LM đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình S năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm “Tội đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình S năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình S năm 2015.
* Tịch thu tiêu hủy:
- Tại vị trí Sòng 1:
+ 52 (năm mươi hai) lá bài tây, đã qua sử dụng;
+ 04 (bốn) cái nắp chai nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng;
- Tại vị trí Sòng 2:
+ 52 (năm mươi hai) lá bài tây, đã qua sử dụng;
+ 04 (bốn) cái nắp chai nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng;
* Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 1.543.000 đồng (Một triệu năm trăm bốn mươi ba nghìn đồng) dùng vào việc đánh bạc và thu lợi từ việc đánh bạc.
* Trả lại cho Lê Thị T:
- Tại vị trí Sòng 1:
+ 04 (bốn) cái ghế bằng nhựa, màu đỏ đậm, loại ghế có tựa lưng, mỗi cái ghế có thân ghế cao nhất 68 cm, rộng 32.5 cm, dài 50 cm, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái bàn bằng nhựa, màu đỏ đậm, thân bàn cao nhất 51 cm, rộng 43.5 cm, dài 64 cm, đã qua sử dụng;
- Tại vị trí Sòng 2:
+ 02 (hai) cái ghế bằng nhựa, màu đỏ đậm, loại ghế có tựa lưng, mỗi cái ghế có thân ghế cao nhất 68 cm, rộng 32.5 cm, dài 50 cm, đã qua sử dụng;
+ 02 (hai) cái ghế bằng nhựa, màu đỏ, loại ghế có tựa lưng, mỗi cái ghế có thân ghế cao nhất 68 cm, rộng 32.5 cm, dài 50 cm, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái bàn bằng nhựa, màu đỏ, thân bàn cao nhất 51 cm, rộng 43.5 cm, dài 64 cm, đã qua sử dụng;
* Trả lại cho Lê Văn T: số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
* Trả lại cho Nguyễn Văn Đ: số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã LM và Chi cục Thi hành án dân S thị xã LM; Biên bản giao nhận tài sản ngày 24/8/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã LM và Kho bạc Nhà nước thị xã LM).
[3] Về án phí hình S sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ph phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang; - VKSND thị xã LM; - Công an thị xã LM; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHÊN TÒA Châu Thanh Quyền |