vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 25/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2021. Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 25 /2022/HS-ST
Ngày: 25 - 3 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Lin

Bà Lê Thị Xuân Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1976, nơi sinh; thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: số 263/X đường X, phường 14, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chổ ở hiện nay: ấp M2, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị Kim P sinh năm 1958, bị cáo có vợ tên Huỳnh Ngọc O sinh năm 1982 và 02 người con sinh năm 2006 và năm 2013. Tiền án; Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 6 năm 2021, tại trại giam Công an tỉnh Long An, cho đến nay. (bị cáo có mặt).

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Châu Thị Ngoc L, sinh năm 1997

Địa chỉ: 61/1B ấp C1, xã T, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn Minh S, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: 11/6B ấp T 1, xã T, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chi Minh.

Lưu Công K, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm X, phường X, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trần Minh T, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 2 Lô O P, phường X, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Trần Lê Huỳnh Đ, Phạm Minh N (tất cả người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/6/2021, Nguyễn Văn T thuê xe mô tô Garb đi đến khu vực bến xe An Sương thuộc Quận 12, TP. Hồ Chí Minh gặp 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) chạy xe mô tô thuê. T nói với người đàn ông này cho T gặp người phụ nữ tên Th (không rõ nhân thân lại lịch) để mua ma túy, người đàn ông hỏi mua bao nhiêu tiền, T nói mua 10.000.000 đồng tiền ma túy dạng đá, khay và kẹo (thuốc lắc), người đàn ông đi liên lạc với Th còn T đứng đợi. Một lúc sau người đàn ông chạy xe quay lại chở T đi trên Quốc lộ 1A hướng về phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 500 mét. Lúc này, có 01 người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô chở người phụ nữ tên Th từ phía sau chạy lên, Th đưa cho T 01 túi vải màu nâu bên trong chứa chất ma túy dạng đá, khay và kẹo (thuốc lắc). Sau khi mua chất ma túy xong, T cất giấu mua túy vào trong túi quần rồi đón xe Garb về nhà của T thuê ở tại ấp M2, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Khi về đến nhà khoảng 21 giờ cùng ngày, T lấy túi vải đựng ma túy vừa mua để trên nền gạch phòng khách. T mở túi vải ra lấy 03 bịch nylon rãnh khép viền đỏ gồm: 02 bịch ma túy dạng đá và 01 bịch ma túy loại khay và kẹo (thuốc lắc). Sau đó, T dùng ống hút nhựa lấy ma túy dạng đá mới mua bỏ vào nỏ để sử dụng cùng Châu Thị Ngọc L; Nguyễn Minh S; Trần Minh T (B) và Lưu Công K. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện T tàng trữ chất ma tuý vừa mua về để trên nền gạch phòng khách nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Công an tiếp tục kiểm tra thu giữ trên mái tole cạnh cửa sổ phòng ngủ 01 bóp da bên trong có 21 gói nylon chứa chất ma túy, thu giữ gần chân cầu thang giữa tủ sắt và tủ nhựa 01 túi giấy màu đen bên trong chứa chất ma túy, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen và thu giữ 01 cân tiểu ly điện tử màu xám viền trắng phía sau có hàng chữ 1*CR2032 Bettery.

Tại bản Kết luận giám định số: 604/2021/KLGĐ ngày 01/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận:

“1. Bì niêm phong số 1:

- Tinh thể màu trắng (mẫu M1-A) và tinh thể màu trắng (mẫu Ml-B) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 36,1948gam, loại: Methamphetamine.

- 07 (bảy) viên nén hình chữ nhật màu xám (mẫu M1-C1), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 3,4644gam, loại: MDMA.

- Chất bột màu trắng (mẫu M1-C2), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1801gam, loại: Ketamine.

- Các mảnh vỡ viên nén màu nâu (mẫu M1-C3), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,8018gam, loại: Methamphetamine, MDMA, Ketamine.

- Viên nên hình vuông màu xanh (mẫu M1-C4), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5466 gam, loại: Methamphetamine.

- Viên nén hình bầu dục màu nâu (mẫu M1-C5-A), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3815 gam, loại: MDMA.

- 02 (hai) viên nén hình tròn màu nâu (mẫu M1-C5-B), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,6172gam, loại: Methamphetamine, MDMA.

- Các mảnh vỡ viên nén màu xanh (mẫu M1-C5-C), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3051 gam, loại: MDMA.

2. Bì niêm phong số 2: Tinh thể màu trắng (mẫu M2), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 300,0376gam, loại: Methamphetamine.

3. Bì niêm phong số 3: Tinh thể màu trắng (mẫu M3), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 5,9115gam, loại: Methamphetamine.

Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh giám định được lưu tại Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An.

Hoàn lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật sau giám định có khối lượng: 9,8198 gam (Mẫu M1-A); 25,4351 gam (mẫu M1-B); 1,4807 gam (mẫu M1-C1); 295,5449 gam (mẫu M2); 4,9892 gam (mẫu M3), tất cả được niêm phong./.”

Tại bản Kết luận giám định số 3484/C09B ngày 03/8/2021 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh -Viện khoa học Hình sự giám định AND của Nguyễn Văn T đối với chất ma túy có khối lượng 300,0376 gam, loại: Methamphetamine thu tại chân cầu thang, kết luận như sau:

“- Không phân tích được kiểu gen hoàn chỉnh trên túi nylon gửi giám định do lượng dấu vết ít nên không đủ cơ sở truy nguyên cá thể.

- Phân tích và lưu kiểu gen đối tượng Nguyễn Văn T tại Phân Viện Khoa học Hình sự - Tp. Hồ Chí Minh.”

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSĐH ngày 18 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra, đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt từ 11 năm đến 12 năm tù.

Về xử lý tang vật chứng: Áp dụng Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có 9,8198 gam, loại Methamphetamine (Mẫu M1-A); 25,4351 gam, loại Methamphetamine (mẫu M1-B); 1,4807 gam, loại MDMA (mẫu M1-C1).

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 cân tiểu ly điện tử màu xám viền trắng phía sau có hàng chữ 1*CR2032 Bettery.

- Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, Model A17884FCCID: BCG-E3087AIC:579C-E3087Ap.

Đối với vật chứng hoàn lại sau giám định là 295,5449 gam, loại Methamphetamine (mẫu M2) hiện đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An tạm giữ để tiếp tục điều tra vụ án theo Quyết định tách vụ án số 02 ngày 07/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An.

Đối với vật chứng hoàn lại sau giám định là 4,9892 gam, loại Methamphetamine (mẫu M3) hiện đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tạm giữ để tiếp tục điều tra vụ án theo Quyết định tách vụ án số 06 ngày 13/01/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đối với hành vi đưa chất ma tuý cho người khác sử dụng của Nguyễn Văn T, do T chỉ thừa nhận mua về sử dụng cá nhân không rủ rê lôi kéo ai sử dụng trái phép chất ma túy, T khai khi lấy chất ma túy chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Nên hành vi của Nguyễn Văn T, Châu Thị Ngọc L, Nguyễn Minh S, Lưu Công K, Trần Minh T, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Long An đang điều tra xử lý, nên không xem xét.

Đối với người phụ nữ tên Th có hành vi bán trái phép chất ma túy cho T, do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chất ma tuý có khối lượng có khối lượng: 300,0376gam, loại: Methamphetamine, qua giám định không truy nguyên được cá thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An ra Quyết định tách vụ án số 02 ngày 07 tháng 10 năm 2021 để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với chất ma tuý có khối lượng 5,9115 gam, loại: Methamphetamine, bị can T không thừa nhận là chất ma tuý của T. Do Cơ quan cảnh sát Điều tra không tiến hành đối chất lại được lời khai của bị cáo và những người liên quan là Châu Thị Ngọc L, Nguyễn Minh S, Lưu Công K nên ra Quyết định tách vụ án số 06 ngày 13 tháng 01 năm 2022 để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người liên quan và những người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 22 tháng 6 năm 2021, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với kết luận giám định số 604/2021/KLGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An, phù hợp sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, khoảng 22 giờ 00 phút ngày 22 tháng 6 năm 2021, tại nhà trọ thuộc ấp M 2, xã Mỹ hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, lực lượng Công an huyện Đức Hòa kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 42,4915 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamin nhằm mục đích sử dụng.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn T với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo, bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ; Bị cáo Nguyễn Văn T không có tiền án, tiền sự trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.

Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Đối với 01 gói niêm phong bên trong có 9,8198 gam, loại Methamphetamine (Mẫu M1-A); 25,4351 gam, loại Methamphetamine (mẫu M1-B); 1,4807 gam, loại MDMA (mẫu M1-C1) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đây là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 cân tiểu ly điện tử màu xám viền trắng phía sau có hàng chữ 1*CR2032 Bettery. Bị cáo T khai không biết của ai, nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, Model A17884FCCID: BCG-E3087AIC:579C-E3087Ap. Đây là tài sản của bị cáo T, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

- Đối với vật chứng hoàn lại sau giám định là 295,5449 gam, loại Methamphetamine (mẫu M2) hiện đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An tạm giữ để tiếp tục điều tra vụ án theo Quyết định tách vụ án số 02 ngày 07/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An.

- Đối với vật chứng hoàn lại sau giám định là 4,9892 gam, loại Methamphetamine (mẫu M3) hiện đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tạm giữ để tiếp tục điều tra vụ án theo Quyết định tách vụ án số 06 ngày 13/01/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đối với hành vi đưa chất ma tuý cho người khác sử dụng của Nguyễn Văn T, do T chỉ thừa nhận mua về sử dụng cá nhân không rủ rê lôi kéo ai sử dụng trái phép chất ma túy, T khai khi lấy chất ma túy chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Nên hành vi của Nguyễn Văn T, Châu Thị Ngọc L, Nguyễn Minh S, Lưu Công K, Trần Minh T, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Long An đang điều tra xử lý, nên không xem xét.

- Đối với người phụ nữ tên Th có hành vi bán trái phép chất ma túy cho T, do chỉ có lời khai duy nhất của bị can nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với chất ma tuý có khối lượng có khối lượng: 300,0376 gam, loại: Methamphetamine, qua giám định không truy nguyên được cá thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An ra Quyết định tách vụ án số 02 ngày 07 tháng 10 năm 2021 để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với chất ma tuý có khối lượng 5,9115 gam, loại: Methamphetamine, bị can T không thừa nhận là chất ma tuý của T. Cơ quan cảnh sát Điều tra không tiến hành đối chất lại được lời khai của bị cáo và những người liên quan là Châu Thị Ngọc L, Nguyễn Minh S, Lưu Công K nên ra Quyết định tách vụ án số 06 ngày 13 tháng 01 năm 2022 để tiếp tục điều tra xử lý sau.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2021.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25 tháng 3 năm 2022).

Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có 9,8198 gam, loại Methamphetamine (Mẫu M1-A); 25,4351 gam, loại Methamphetamine (mẫu M1-B); 1,4807 gam, loại MDMA (mẫu M1-C1) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 cân tiểu ly điện tử màu xám viền trắng phía sau có hàng chữ 1*CR2032 Bettery.

- Hoàn trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, Model A17884FCCID: BCG-E3087AIC:579C-E3087Ap.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 47/2022 ngày 22 tháng 02 năm 2022.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo. Riêng người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ