- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị K phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị K 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung bị cáo 10.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2022/HS-PT Ngày 24 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo
Các Thẩm phán:
Ông Tô Văn Thịnh
Ông Nguyễn Đức Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 31/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Vũ Thị K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
Vũ Thị K, sinh năm 1967 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú tổ 1.., phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C (đã chết) và bà Vũ Thị M; có chồng Ngô Tiến S và 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2011/HSST ngày 06/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình xử phạt Vũ Thị K 8.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, bị cáo chưa chấp hành hình phạt của bản án trên; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt)
- Ngoài ra trong vụ án có 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 16/01/2022, Vũ Thị K, Hoàng Thị L, sinh năm 1967 trú tại tổ .., phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình đến nhà vợ chồng Chu Văn T, sinh năm 1962 và Dương Thị H, sinh năm 1962 trú tại tổ .., phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình ngồi chơi nói chuyện. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Dương Thị H rủ K, T, L đánh bạc được thua bằng tiền hình thức đánh “phỏm”, cả ba đồng ý và cùng thống nhất với H mức thắng thua mỗi ván và người nào “Ù” thì được mỗi người còn lại trả 10.000 đồng, người nào về nhất thì người về nhì trả 2.000 đồng, người về ba trả 4.000 đồng, người về bét trả 6.000 đồng, người nào cháy phải trả 8.000 đồng. Sau đó H lấy bộ tú lơ khơ 52 quân trên nóc tủ lạnh của gia đình rồi cùng K, T, L ngồi tại phòng khách đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính thu giữ tổng số tiền K, H, T và L đang sử dụng đánh bạc là 330.000 đồng trong đó tại vị trí chỗ ngồi trước mặt T số tiền 120.000 đồng; H số tiền 80.000 đồng; L số tiền 124.000 đồng; K số tiền 6.000 đồng và 01 bộ tú lơ khơ 52 quân.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị K phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị K 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp; xử lý vật chứng; quyền kháng cáo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngày 13 tháng 4 năm 2022 bị cáo Vũ Thị K có đơn kháng cáo xin được phạt tiền là hình phạt chính.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị K thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương do bị cáo sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị K từ 09 đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ, khấu trừ 5% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã nộp số tiền 10.200.000 đồng gồm tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số AA/2021/0001266 ngày 10/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 13 tháng 4 năm 2022 bị cáo Vũ Thị K làm đơn kháng cáo xin được phạt tiền là hình phạt chính. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được cải tạo tại địa phương. Căn cứ khoản 1 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự việc thay đổi nội kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; biên bản vi phạm hành chính; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/01/2022 tại nhà của vợ chồng Chu Văn T tại tổ ..., phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Dương Thị H, Vũ Thị K, Chu Văn T và Hoàng Thị L đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh “phỏm”. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang thu giữ tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 330.000 đồng. Bị cáo Vũ Thị K có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, nên lần phạm tội này là yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin được cải tạo tại địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù số tiền đánh bạc của lần phạm tội này rất nhỏ (330.000 đồng) nhưng do bị cáo chưa thi hành hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 50/2011/HSST ngày 06/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình xử phạt 8.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” nên bị cáo vẫn còn tiền án và tiền án đó là yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” lần này. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, xem xét áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù để giáo dục, cải tạo bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.200.000 đồng gồm tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số AA/2021/0001266 ngày 10 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Ninh Bình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình. Xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt để sung ngân sách Nhà nước. Vì vậy cần sửa bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị K, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình;
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị K 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ để sung ngân sách Nhà nước.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Vũ Thị K cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã nộp số tiền 10.200.000 đồng gồm tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình tại biên lai thu tiền số AA/2021/0001266 ngày 10 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 24/6/2022.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội (1 bản); - VKSND cấp cao tại Hà Nội (1 bản); - VKSND tỉnh Ninh Bình (2 bản); - Phòng kiểm tra nghiệp vụ THA (1 bản); - TAND thành phố T (4 bản); - VKSND thành phố T (1 bản); - CA thành phố T (1 bản); - Chi cục THADS thành phố T (1 bản); - Phòng HS&NV Công an tỉnh (1 bản); - Bị cáo (1 bản); - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1 bản); - Lưu hồ sơ (2 bản); - Lưu tòa và Tổ hành chính tư pháp (2 bản); (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú). | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Thảo |