vanban.org

Bản án 25/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 16/02/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đoàn Anh Q.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Anh Q được ly hôn anh Phạm Văn X. Về con chung: Giao con chung tên là Phạm Đoàn Minh Thái, sinh ngày 02/2/2018 cho Chị Đoàn Anh Q nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Quyên + Xưởng"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đoàn Anh Q.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16-02-2022
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 205/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Anh Q, nơi cư trú: Cụm 7, thôn HT, xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn X, nơi ĐKHKTT: Cụm 7, thôn HT, xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Lãnh thổ Đài Loan. Vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn Chị Đoàn Anh Q trình bày:

Chị kết hôn với anh Phạm Văn X trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 27 tháng 9 năm 2012. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Xưởng đi lao động ở Đài Loan, còn chị sinh sống ở Việt Nam. Do xa cách về địa lý, vợ chồng không tin tưởng nhau về tình cảm, kinh tế, thường xuyên xẩy ra bất đồng trong cuộc sống. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng đã có từ những năm trước đây khi chị mới sinh con, anh Xưởng không chăm lo cho gia đình dẫn đến chị đã trở về nhà bố mẹ đẻ sinh sống một thời gian, sau đó được sự động viên của gia đình hai bên chị trở về đoàn tụ cùng với anh Xưởng. Vợ chồng đã cố gắng hòa hợp song mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mặc dù mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Vợ chồng đã ly thân với nhau gần 3 năm nay, mỗi người sống một nơi. Hiện nay, chị chỉ biết anh Xưởng đi sinh sống, lao động ở Đài Loan còn địa chỉ cụ thể ở đâu thì chị không rõ. Tuy nhiên, anh Xưởng vẫn liên lạc với người thân trong gia đình anh là ông Phạm Văn Sòong và bà Nguyễn Thị Suốt (bố mẹ đẻ anh Xưởng). Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Xưởng để chị nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh Xưởng có một con chung là Phạm Đoàn Minh Thái, sinh ngày 02/02/2018. Hiện nay, cháu đang ở với chị. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh Xưởng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phạm Văn X:

Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cho bố mẹ đẻ anh Phạm Văn X là ông Phạm Văn Sòong và bà Nguyễn Thị Suốt. Tòa án đã 2 lần thông báo cho ông Phạm Văn Sòong và bà Nguyễn Thị Suốt cung cấp địa chỉ của anh Xưởng ở Đài Loan và yêu cầu ông Phạm Văn Sòong và bà Nguyễn Thị Suốt cho biết kết quả về việc ông, bà đã thông báo cho anh Xưởng để gửi lời khai về Tòa án chưa. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Suốt thể hiện: Anh Xưởng vẫn thường xuyên liên lạc với vợ chồng ông bà nhưng ông Phạm Văn Sòong và bà Nguyễn Thị Suốt không biết địa chỉ cụ thể anh Xưởng ở Đài Loan. Ông Phạm Văn Sòong và bà Nguyễn Thị Suốt đã thông báo cho anh Xưởng về yêu cầu của Tòa án. Anh Xưởng có quan điểm: Anh Xưởng đồng ý ly hôn với chị Quyên nhưng anh không thể gửi lời khai về cho Tòa án vì công việc của anh bận, dịch bệnh Covid phức tạp nên điều kiện đi lại khó khăn. Gia đình ông Sòong và bà Suốt đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Quyên và anh Xưởng được ly hôn càng sớm càng tốt để anh chị ổn định cuộc sống.

Tại Công văn số 30780/QLXNC-P5 ngày 14/12/2021 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an thể hiện: Anh Phạm Văn X đã xuất cảnh ngày 29/4/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Tại phiên tòa, Chị Đoàn Anh Q và anh Phạm Văn X đều vắng mặt và chị Quyên xin xét xử vắng mặt, không thay đổi lời khai như đã gửi Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đa chấp hành đúng cã

́c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự; nguyên đơn đa thực hiện đũ

́ng các quyền và nghia vu ̣ đúng theo quỹ định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự ; bị đơn anh Phạm Văn X vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Đoàn Anh Q và anh Phạm Văn X xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 27 tháng 9 năm 2012 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Đoàn Anh Q. Về con chung: Đề nghị giao con chung là Phạm Đoàn Minh Thái, sinh ngày 02/2/2018 cho Chị Đoàn Anh Q nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Quyên xin tự giải quyết với anh Xưởng, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Quyên xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Phạm Văn X có hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng nhưng hiện đang sinh sống ở nước ngoài (Đài Loan), nguyên đơn Chị Đoàn Anh Q hiện nay đang sinh sống tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, Chị Đoàn Anh Q và anh Phạm Văn X đều vắng mặt, chị Quyên đề nghị xét xử vắng mặt. Việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Phạm Văn X: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Phạm Văn X vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Đoàn Anh Q và anh Phạm Văn X xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 27 tháng 9 năm 2012 theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do Chị Đoàn Anh Q sinh sống ở Việt Nam còn anh Phạm Văn X sinh sống ở Đài Loan. Chính sự xa cách về địa lý nên dẫn đến vợ chồng không tin tưởng nhau về kinh tế, tình cảm, việc liên lạc, quan tâm đến nhau bị hạn chế. Vợ chồng đã cố gắng hòa hợp song mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau được một khoảng thời gian dài, mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Quyên và anh Xưởng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho Chị Đoàn Anh Q được ly hôn với anh Phạm Văn X.

Về con chung: Chị Đoàn Anh Q và anh Phạm Văn X có 01 con chung tên là Phạm Đoàn Minh Thái, sinh ngày 02/2/2018. Xét thấy, Chị Đoàn Anh Q và gia đình anh Phạm Văn X đều có nguyện vọng để cho cháu Thái ở với chị Quyên cho đến khi trưởng thành. Anh Xưởng không có quan điểm về việc nuôi con chung và hiện anh Xưởng đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc con chung bằng chị Quyên, không có địa chỉ cụ thể, mặt khác con chung còn nhỏ nên yêu cầu này của Chị Đoàn Anh Q là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung, do đó cần giao con Phạm Đoàn Minh Thái cho chị Quyên nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quyên xin tự giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung với anh Xưởng, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Đoàn Anh Q xác định không có tài sản chung với anh Phạm Văn X, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Anh Q là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Anh Q và anh Phạm Văn X được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đoàn Anh Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Anh Q được ly hôn anh Phạm Văn X.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Phạm Đoàn Minh Thái, sinh ngày 02/2/2018 cho Chị Đoàn Anh Q nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đoàn Anh Q xin tự giải quyết với anh Phạm Văn X, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Đoàn Anh Q xác định không có tài sản chung với anh Phạm Văn X, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Anh Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân

́ sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng

̀

án phí số 0000153 ngày 07 tháng 12 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đoàn Anh Q đa nô ̣̃ p đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Anh Q (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Phạm Văn X (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ