- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chi Thao khoi kien anh B ly hon"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tvề “Ly hôn” đối với bị đơn anh Phạm Xuân B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 25/2022/HNGĐ-ST Ngày 09/5/2022. V/v: Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Xuân B. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Nam và bà Phạm Thị Tư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 399/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021, về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXX-ST ngày 30 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995
Địa chỉ: Tổ 3, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Phạm Xuân B, sinh năm 1991
Địa chỉ: Số nhà 221/44/10 Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/12/2021, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị và anh Phạm Xuân B kết hôn với nhau vào ngày 04/6/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu được 06 tháng. Quá trình sống chung cho đến nay, vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, anh B thường xuyên uống rượu về nhà chửi bới, đánh đập vợ con, không tôn trọng nhau. Từ năm 2017 cho đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, mạnh ai nấy sống, không ai còn còn tâm đến nhau nữa. Chị thấy tình cảm với anh B không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh B.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, có họ và tên là Phạm Ngọc Anh T, sinh ngày 21/8/2016, hiện tại đang ở với chị. Khi ly hôn nguyện vọng của chị xin nuôi con chung, chị đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh B cấp dưỡng.
- Về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau: Thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định, Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về … án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T về ly hôn đối với bị đơn anh Phạm Xuân B. Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Ngọc Anh T, sinh ngày 21/8/2016, chị T có nguyện vọng xin nuôi con nên giao con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp, chị T đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu anh B cấp dưỡng nên không xem xét; về tài sản chung: không có; nợ chung: không có nên không xem xét; về án phí: chị Nguyễn Thị Tphải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng:
1.1. Chị Nguyễn Thị Tvà anh Phạm Xuân B kết hôn với nhau vào ngày 04/6/2015, có đăng ký tại UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 49/2015, quyển số 07. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Phạm Xuân B. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp về: “Ly hôn”.
1.2. Bị đơn anh Phạm Xuân B, ở địa chỉ: Số nhà 221/44/10 Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
1.3. Nguyên đơn Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Xuân B chống đối, không hợp tác làm việc. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung tranh chấp:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Xuân B được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình sống chung theo chị Nguyễn Thị T xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, anh B thường xuyên uống rượu về nhà chửi bới, đánh đập vợ con, không tôn trọng nhau. Từ năm 2017 cho đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, mạnh ai nấy sống, không ai còn còn tâm đến nhau nữa.
Tại biên bản xác minh ghi ngày 17/02/2022 đối với bà Vũ Thị H là Trưởng thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, có nội dung: Về tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Xuân B như thế nào thì địa phương không nắm bắt được. Anh Phạm Xuân B, sinh năm 1991, cư trú tại số nhà 221/44/10 Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Tại văn bản ngày 20/4/2022 đối với bà Trần Thị H, sinh năm 1976 là mẹ ruột của chị Nguyễn Thị T, có nội dung: Năm 2017 chị T sinh con thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế thiếu thốn, anh B thường xuyên cờ bạc, uống rượu về nhà kiếm chuyện đánh đập vợ con nhiều lần. Từ cuối năm 2017 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, mỗi người ở một nơi, anh B không quan tâm đến mẹ con chị T. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh B thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét hôn nhân giữa chị T và anh B lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng chị T và anh B đã sống ly thân nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn lại gia đình. Vì vậy, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Phạm Xuân B.
+ Về con chung: Vợ chồng chị T, anh B có 01 con chung, có họ và tên là Phạm Ngọc Anh T, sinh ngày 21/8/2016, hiện tại đang ở với chị T. Xét nguyện vọng của chị T xin nuôi con chung là có căn cứ chấp nhậnợp. Chị T trình bày đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu anh B cấp dưỡng nên không xem xét.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có nên không xem xét.
Từ những phân tích, căn cứ pháp luật nêu trên, kết luận: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T về “Ly hôn” đối với bị đơn anh Phạm Xuân B.
Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 144, 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về …án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tvề “Ly hôn” đối với bị đơn anh Phạm Xuân B.
2. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Xuân B.
3. Về con chung: Giao 01 con chung có họ và tên là Phạm Ngọc Anh T, sinh ngày 21/8/2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chị T đủ điều kiện nuôi con nên anh Phạm Xuân B không phải cấp dưỡng
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và khi có lý do chính đáng thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 00004739 ngày 21/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: + Các đương sự; + VKSND Tp. B; + TAND tỉnh Lâm Đồng; + Chi cục T.H.A.DS. Tp. B; + UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; + Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Vũ Đức Công |