vanban.org

Bản án 25/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị L được ly hôn anh Lý Tòn N. Về án phí: Chị Đặng Thị L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số AA/2021/0001430 ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Ly hôn, giữa chị Đặng Thị L và anh Lý Tòn N"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 6 -2022
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Hoa;

2.Ông Lý Trung Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Lộc Hồng Điệp - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022 về việc: “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXX-ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L; sinh năm 1993;

Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lý Tòn N, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 4 năm 2022 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Đặng Thị L trình bày:

Chị và anh Lý Tòn N trước khi kết hôn có được tìm hiểu và tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái ngày 14 tháng 6 năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, vợ chồng không thống nhất được cách làm ăn kinh tế, anh N thường đi làm ăn xa. Vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 11 năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai, chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở xã P, huyện V sinh sống từ tháng 11/2021 đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà án giải quyết cho chị L được ly hôn anh Lý Tòn N.

Về con chung: Chị Đặng Thị L và anh Lý Tòn N không có con chung.

Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi, gửi thông báo phiên hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án có gửi các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Lý Tòn N nhưng anh N không có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Tại Biên bản xác minh ngày 25 tháng 4 năm 2022 (Bút lục số 26), ông Lý Văn T cho biết: “Anh Lý Tòn N là con trai ông. Chị Đặng Thị L và anh Lý Tòn N trước khi kết hôn có được tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái ngày 14/6/2019. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 11 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được cách làm ăn kinh tế, anh N thường đi làm ăn xa. Chị L và anh N đã sống ly thân, chị L chuyển về gia đình bên ngoại sinh sống từ khoảng tháng 11 năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị L yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh N đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung chị L và anh N không có con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không có”.

Tại biên bản xác minh ngày 25/4/2022, Công an xã Đ, huyện VY, tỉnh Yên Bái cho biết: “Anh Lý Tòn N hiện đăng ký hộ khẩu tại thôn M, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Anh N chưa cắt khẩu hay chuyển khẩu đi đâu”.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị L được ly hôn anh Lý Tòn N; Về con chung: Không có con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh Lý Tòn N là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh Lý Tòn N.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị L và anh Lý Tòn N trước khi kết hôn có tìm hiểu và tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 14/6/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Việc kết hôn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị L và anh Lý Tòn N là hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình chung sống chị L và anh N tính cách không phù hợp, bất đồng quan điểm sống. Chị L và anh N đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2021 đến nay. Từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã báo gọi anh N nhiều lần nhưng anh N đều vắng mặt. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được. Qua xác minh tại gia đình anh N thì mâu thuẫn giữa chị L và anh N là đúng, chị L và anh N đã sống ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên thấy yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị L.

[4] Về con chung: Chị L và anh N không có con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Đặng Thị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị L được ly hôn anh Lý Tòn N.

2. Về án phí: Chị Đặng Thị L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số AA/2021/0001430 ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lý Tòn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ