- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hồ Thị Diễm T và ông Dương Vũ L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v…
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST. Ngày 27-9-2022. V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Lâm Thị Loan Em
- Ông Nguyễn Thành Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Ni – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường– Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXX-DS ngày 05 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Diễm T, sinh ngày 20/4/1989.(có mặt)
ĐKNKTT: ấp N, xã T, huyện H, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ liên hệ: ấp V, xã Y, huyện A, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Ông Dương Vũ L, sinh năm 1990.(có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
ĐKNKTT: ấp N, xã T, huyện H, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ liên hệ: Nhà Trọ A, tổ X, ấp B, xã K, thị xã C, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/06/2022 cũng như tại phiên toà nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Diễm T và ông Dương Vũ L cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, tính cách không hoà hợp, bà và ông L không còn chung sống từ năm 2016 cho đến nay, bà không còn tình cảm với ông L, bà yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có hai người con chung là cháu Dương Thị Như Q, sinh ngày 14/01/2011 và cháu Dương Thị Quỳnh N, ngày 14/05/2013, con đang do bà T nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung không có, nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Dương Vũ L có văn bản trình bày ý kiến: Do ông bận công việc không thể đến tham gia phiên toà, yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt ông.
Đại diện Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày: Từ khi thụ lý đến kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn, giao con cho nguyên đơn nuôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng Toà án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo mở phiên họp công khai tài liệu chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham gia phiên toà đối với bị đơn ông Dương Vũ L nhưng ông Dương Vũ L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Dương Vũ L.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Diễm T và ông Dương Vũ L tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình chung sống bà T và ông L thực tế có phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng không còn chung sống với nhau đã nhiều năm, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không được. Từ sự việc trên cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã không thể giải quyết được, nếu tiếp tục kéo dài là không thể mang lại hạnh phúc cho cả hai,vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho bà T được ly hôn là phù hợp theo quy định pháp luật.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà T và ông L có hai người con chung là cháu Dương Thị Như Q, sinh ngày 14/01/2011 và cháu Dương Thị Quỳnh N, ngày 14/05/2013, hiện các con đang sống chung với bà T, bà T yêu cầu được được quyền nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Q và cháu N còn nhỏ, đã sống ổn định với bà T nên giao cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không buộc ông L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, khi nào bà T có yêu cầu thì có quyền khởi kiện để được xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có ai yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bà Hồ Thị Diễm T là người khởi kiện nên phải chịu án phí hôn nhân là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn, giao con cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hồ Thị Diễm T được ly hôn với ông Dương Vũ L.
Về con chung: Giao cháu Dương Thị Như Q, sinh ngày 14/01/2011 và cháu Dương Thị Quỳnh N, ngày 14/05/2013 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng.
Ông Dương Vũ L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở ông thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà Hồ Thị Diễm T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu số 0002759 ngày 15/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, bà T đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy Ban nhân dân nơi đương sự cư trú) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKS nhân dân huyện Thạnh Trị; - Chi cục THA dân sự huyện Thạnh Trị; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu hồ sơ vụ án; | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Thị Bích Phượng |