- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ Nguyễn Thị Ng - Bảo L"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N về việc xin ly hôn với anh Bảo L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST Ngày : 08/12/2022 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế
Các Hội thẩm nhân dân: ông R Mah In ( Ama Ka) và ông Phan Văn Hoè
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Tấn Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.
-
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông,
Đắk Lắk: Bà Phạm Thị Thanh – Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 143/2022/TLST-HNGĐ, ngày 01/8/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2022/QĐST – HNGĐ ngày 22/11/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị N , sinh năm: 1987
Địa chỉ: Thôn A, CK, KB, Đăk Lăk
- Bị đơn: Bảo L , sinh năm: 1984
Địa chỉ: Thôn A, HT, KB, Đăk Lăk
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và các biên bản làm việc, chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về hôn nhân : Tôi và anh Bảo L tự nguyện kết hôn với nhau, chúng tôi đã đăng ký kết hôn tại UBND xã HT, KB, Đắk Lắk vào năm 2007.
Do vợ chồng mâu thuẫn với nhau, không hoà hợp trong suy nghĩ cũng như trong sinh hoạt hằng ngày, hay cãi nhau rồi đánh nhau nên chúng tôi không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 4/2022 đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau.
Nhận thấy, không thể hoà hợp để duy trì hạnh phúc gia đình nên tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Bảo L.
Về con chung : Tôi và anh Bảo L có 03 người con chung, tên là Bảo M , sinh ngày 22/3/2008; Bảo A, sinh ngày 18/6/2015 và Bảo K, sinh ngày 02/12/2018.
Từ khi chúng tôi không chung sống cùng nhau thì anh Bảo L là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bảo M , sinh ngày 22/3/2008. Còn tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bảo A, sinh ngày 18/6/2015 và Bảo K, sinh ngày 02/12/2018.
Do vậy, khi ly hôn, nguyện vọng của tôi là giao con chung Bảo M , sinh ngày 22/3/2008 cho anh Bảo L trực tiếp nuôi dưỡng, còn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 người con chung là Bảo A, sinh ngày 18/6/2015 và Bảo K, sinh ngày 02/12/2018.
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Tôi tự nguyện chịu trách nhiệm nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 04/8/2022, cháu Bảo M trình bày: Khi cha mẹ ly hôn thì cháu muốn ở với cha vì từ khi cha mẹ cháu không chung sống cùng nhau thì cháu ở với cha và ông bà nội.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/8/2022, cháu Bảo A trình bày: Khi cha mẹ cháu ly hôn thì cháu muốn ở với mẹ vì từ khi cha mẹ cháu không chung sống cùng nhau thì cháu ở với mẹ, với em Bảo K và ông bà ngoại.
Tại biên bản xác minh ngày 18/8/2022, Công an xã HT , KB, Đắk Lắk cho biết: Anh Bảo L, sinh năm: 1984 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, HT , KB, Đắk Lắk . Tuy nhiên , hiện nay anh Bảo L đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương . Vào đầu tháng 8/2022 vừa qua, anh Bảo L về địa phương làm căn cước công dân . Công an xã có trao đổi với anh về việc anh có vấn đề gì mà Toà án có văn bản xác minh đối với anh thì anh Bảo L cho biết hiện nay chị Nguyễn Thị N là vợ anh đang làm đơn xin ly hôn . Tuy nhiên, hiện đã giải quyết xong . Vì vậy, Công an xã cũng không hỏi gì thêm .
Tại biên bản xác minh ngày 19/8/2022, người nhà của anh Bảo L cho biết: Thỉnh thoảng có việc gì anh Bảo L cũng thường về nhà, gia đình cũng thường xuyên gọi điện trao đổi với anh Bảo L qua zalo, messinger . Gia đình chỉ biết anh Bảo L hiện nay đang chạy xe trong Thành phố HCM chứ không biết địa chỉ làm việc, nơi sinh sống cụ thể của anh Bảo L . Gia đình chúng tôi có nhận được một số văn bản, giấy tờ của Tòa án nhân dân huyện KB, Đăk Lăk gửi cho anh Bảo L về việc chị Nguyễn Thị N xin ly hôn với anh Bảo L và giấy triệu tập lên Toà án làm việc. Tôi cũng báo cho anh Bảo L biết để về Toà án làm việc. Anh Bảo L và chị Nguyễn Thị N đã không chung sống cùng nhau từ lâu, anh Bảo L đưa con trai lớn là Bảo M về ở với ông bà nội, còn chị Nguyễn Thị N đưa 02 con trai là Bảo A và Bảo K về ngoại để sinh sống.
Chị Nguyễn Thị N cũng đã cung cấp số điện thoại của anh Bảo L cho Toà án, Toà án cũng liên lạc trao đổi qua điện thoại với anh Bảo L về việc chị Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với anh và về vấn đề nuôi con chung khi vợ chồng ly hôn, đồng thời yêu cầu anh Bảo L về Toà án nhân dân huyện KB, Đắk Lắk để làm việc nhưng anh Bảo L nói bận công việc làm ăn nên không về Toà án để làm việc được. Hiện giờ anh và chị Nguyễn Thị N không còn chung sống với nhau, anh cũng đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị N, đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh. Về con chung, anh L cho biết hiện anh đang nuôi dưỡng con chung là Bảo M còn Bảo A và Bảo K thì chị Nguyễn Thị N đang nuôi dưỡng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KB, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu Thẩm phán đã chấp hành đúng với quy định tại Điều 48 BLTTDS và tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ án theo đúng quy định của BLTTDS; Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc trường hợp phải thay đổi, việc hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục tống đạt được đảm bảo đúng các quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm.
Về nội dung: Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Qua lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Chị Nguyễn Thị N và anh Bảo L tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã HT , KB, Đắk Lắk vào năm 2007. Do vậy, hôn nhân giữa chị N và anh L là hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, do vợ chồng mâu thuẫn với nhau và đã không còn chung sống cùng nhau từ khoảng tháng 4/2022 đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Bảo L .
Đối với con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Bảo L có 03 người con chung là Bảo M , sinh ngày 22/3/2008; Bảo A, sinh ngày 18/6/2015 và Bảo K, sinh ngày 02/12/2018.
Từ khi hai người không chung sống cùng nhau thì anh Bảo L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Bảo M , sinh ngày 22/3/2008. Còn chị Nguyễn Thị N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bảo A, sinh ngày 18/6/2015 và Bảo K, sinh ngày 02/12/2018. Nguyện vọng của chị Nguyễn Thị N là giao con chung là Bảo M cho anh Bảo L trực tiếp nuôi dưỡng còn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung là Bảo A và Bảo K.
Mặt khác , con chung là Bảo M có nguyện vọng được ở với cha khi cha mẹ ly hôn, còn con chung là Bảo A , sinh ngày 18/6/2015 có nguyện vọng được ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn.
Để đảm bảo quyền lợi của người con chưa thành niên. Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Bảo M cho anh Bảo L trực tiếp nuôi dưỡng và giao hai con chung là Bảo A và Bảo K cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết . Vì vậy không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc chị Nguyễn Thị N tự nguyện chịu trách nhiệm nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác nhận của đương sự trước phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” với anh Bảo L. Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại huyện KB, Đăk Lăk. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện KB theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về tố tụng: Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh Bảo L không đến tham dự phiên tòa nhưng đây là lần thứ hai phiên toà được mở. Do vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện KB, Đăk Lăk vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Bảo L tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã HT , KB, Đắk Lắk vào năm 2007. Do vậy, hôn nhân giữa chị N và anh L là hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, do vợ chồng mâu thuẫn với nhau và đã không chung sống cùng nhau từ tháng khoảng 4/2022 đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Bảo L.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Bảo L có 03 người con chung là Bảo M , sinh ngày 22/3/2008; Bảo A, sinh ngày 18/6/2015 và Bảo K, sinh ngày 02/12/2018.
Từ khi hai người không chung sống cùng nhau thì anh Bảo L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Bảo M , sinh ngày 22/3/2008. Còn chị Nguyễn Thị N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bảo A, sinh ngày 18/6/2015 và Bảo K, sinh ngày 02/12/2018.
Mặt khác , con chung là Bảo M có nguyện vọng được ở với cha khi cha mẹ ly hôn, còn con chung là Bảo A , sinh ngày 18/6/2015 có nguyện vọng được ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn, cháu Bảo K, sinh ngày 02/12/2018 còn nhỏ . Nguyện vọng của chị Nguyễn Thị N là giao con chung là Bảo M cho anh Bảo L trực tiếp nuôi dưỡng còn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung là Bảo A và Bảo K.
Để đảm bảo quyền lợi của những người con chưa thành niên. Cần giao con chung là Bảo M cho anh Bảo L trực tiếp nuôi dưỡng và giao hai con chung là Bảo A và Bảo K cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết . Vì vậy không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N tự nguyện chịu trách nhiệm nộp án phí là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N về việc xin ly hôn với anh Bảo L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 51, ngày 05/9/2007 do Ủy ban nhân dân xã HT, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk cấp cho chị Nguyễn Thị N và anh Bảo L hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Giao con chung là Bảo M cho anh Bảo L trực tiếp nuôi dưỡng và giao hai con chung là Bảo A và Bảo K cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N tự nguyện chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị N đã nộp theo biên lai số 0013196 ngày 27/7/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án .
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND H. Krông Bông; - Chi cục THADS; - Các đương sự; - UBND xã HT; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Huế |