- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa Nguyễn Thị T và dư Bảo K"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2022 V/v: L h n v tranh ch p nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngu ễn Mạnh Cường.
Hội thẩm nhân dân:
1. B Ngu ễn Tố Nga.
2. Ông V Văn Lâm.
- Thư ký phiên toà: B V Thị Mai Hương – Thư ký Toà án nhân dân hu ện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng tham gia phiên toà: Ông Mã Anh Tu n - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở To án nhân dân hu ện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án H n nhân gia đình sơ thẩm về việc l h n v tranh ch p nu i con khi l h n thụ lý số 127/2022/TLST-HNGĐ ngày 02/6/2022 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HNGĐ ng 18/7/2022 v Qu ết định hoãn phiên tòa số 20/2022/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngu ễn Thị T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số nh A, ngõ B, đường C, khu T, thị tr n H, hu ện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Dư Bảo K, sinh năm 1985; địa chỉ: Số nh A, ngõ B, đường C, khu T, thị tr n H, hu ện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngu ễn Thị T, anh Dư Bảo K cùng đi l m thuê trong miền nam từ năm 2017. Cả hai đã gặp nhau và tìm hiểu, đến tháng 3 năm 2018 đăng ký kết h n tại Ủ ban nhân dân thị tr n H, hu ện H, tỉnh Lạng Sơn. Do ở với nhau đã lâu nên chỉ tổ chức lễ cưới nhỏ có gia đình nội ngoại, anh em họ h ng hai bên chứng kiến.
Sau khi kết h n, vợ chồng tiếp tục v o Miền Nam l m việc v chung sống hạnh phúc; tháng 5/2019 chị Ngu ễn Thị T nghỉ việc và về nh chồng ở thị tr n H, hu ện H, tỉnh Lạng Sơn chờ sinh con. Vợ chồng sống mỗi người một nơi xa nhau, anh Dư Bảo K chỉ về nh v o các ng lễ hoặc khi gia đình có c ng việc nên vợ chồng ít quan tâm, nói chu ện khiến tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Đến cuối năm 2019, chị Ngu ễn Thị T phát hiện anh Dư Bảo K có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, c ng khai như vợ chồng trên mạng xã hội, điều đó khiến chị Ngu ễn Thị T su sụp.
Chị Ngu ễn Thị T phải m t một thời gian d i để ổn định lại tinh thần v cuộc sống; đến tháng 5/2021 thì chị Ngu ễn Thị T xin bố mẹ chồng cho hai mẹ con chu ển về nh ngoại ở Nghệ An sinh sống. Vợ chồng cũng chính thức l thân từ đó đến na , kh ng còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Khi xả ra mâu thuẫn, gia đình nội ngoại hai bên cũng can thiệp, hòa giải, chị Ngu ễn Thị T vì thương con nên đã cố gắng l m hòa với chồng nhưng kh ng thể hóa giải nên gia đình đồng ý cho vợ chồng tự qu ết định. Na chị Ngu ễn Thị T xác định kh ng còn tình cảm và đề nghị Tòa án giải qu ết cho l h n với anh Dư Bảo K.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Dư Gia B, sinh ngày 31/10/2019. Khi ly hôn, chị Ngu ễn Thị T êu cầu được qu ền nu i dưỡng, giáo dục con chung đến khi trưởng th nh, đủ 18 tuổi; kh ng êu cầu anh Dư Bảo K c p dưỡng nu i con chung.
Hiện tại, chị Ngu ễn Thị T có c ng việc ổn định l m c ng nhân C ng ty ma T ở Hải Dương thu nhập trung bình 8.000.000đồng/tháng, từ khi con sinh ra cũng chỉ có một mình chị chăm sóc, anh Dư Bảo K kh ng hỏi han quan tâm ha gửi tiền phụ giúp chị nu i con.
Về t i sản chung, nợ chung: Kh ng có; kh ng êu cầu Tòa án giải qu ết.
Đối với bị đơn anh Dƣ Bảo K; Tòa án đã tiến h nh niêm ết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn đều vắng mặt kh ng có lý do nên Tòa án kh ng l được lời khai cũng như tiến h nh phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận c ng khai chứng cứ v hòa giải được.
Ngƣời làm chứng bà Bùi Thị T1 trình bày: Tòa án có gửi các văn bản tố tụng đến cho anh Dư Bảo K, hiện con trai bà đi l m ăn trong miền Nam, không thường xu ên có mặt ở nh nên các văn bản tố tụng b đã nhận tha v đã th ng báo nội dung cho anh Dư Bảo K được biết. Anh Dư Bảo K nói đồng ý l h n với chị Ngu ễn Thị T nhưng c ng việc bận rộn kh ng về được, để cho chị Ngu ễn Thị T l h n đơn phương. Vợ chồng các con xa nhau, b cũng thương con dâu một mình chăm con v t vả m chồng ở xa kh ng phụ giúp được gì. Khi biết vợ chồng, xích mích cãi nhau nghi ngờ anh Dư Bảo K có người phụ nữ khác, b cũng đã gọi anh Dư Bảo K về để vợ chồng hòa giải. B tuổi đã cao kh ng phụ giúp con dâu được nhiều v đã khu ên con trai nghỉ việc trong Miền Nam về tìm việc gần nh để gần vợ, gần con nhưng anh Dư Bảo K kh ng đồng ý. Th tình cảm vợ chồng kh ng thể h n gắn, mâu thuẫn kéo d i nên b cũng đồng ý để các con l h n, mặc dù b kh ng mong muốn điều n . Vợ chồng có một con chung, b đề nghị để chị Ngu ễn Thị T nuôi con chung do cháu còn nhỏ v c ng việc của anh Dư Bảo K ở xa, không thuận tiện chăm sóc.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện Hữu Lũng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm đề nghị giải qu ết vụ án như sau:
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, thẩm phán đã tiến h nh thụ lý vụ án đúng thẩm qu ền, xác định tư cách đương sự, tiến h nh xác minh, thu thập chứng cứ v gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đều đã đảm bảo đúng qu định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng đối với phiên tòa dân sự sơ thẩm. Việc tuân theo pháp luật tố tụng, ngu ên đơn thực hiện đúng qu ền v nghĩa vụ tố tụng theo qu định; bị đơn kh ng thực hiện qu ền v nghĩa vụ của họ theo qu định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải qu ết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật h n nhân v gia đình. Ch p nhận êu cầu khởi kiện, cho chị Ngu ễn Thị T được l h n với anh Dư Bảo K. Chị Ngu ễn Thị T được qu ền trực tiếp nu i dưỡng con chung đến khi trưởng th nh, đủ 18 tuổi. Về t i sản chung v nợ chung: Không có. Đương sự phải chịu án phí theo qu định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra v tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Ngu ễn Thị T có đơn khởi kiện êu cầu giải qu ết về quan hệ h n nhân v con chung nên xác định quan hệ tranh ch p của vụ án l l h n, tranh ch p về nu i con khi l h n. Bị đơn anh Dư Bảo K, cư trú tại số nh A, ngõ B, đường C, khu T, thị tr n H, hu ện H, tỉnh Lạng Sơn nên xác định vụ án thuộc thẩm qu ền của Tòa án nhân dân hu ện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn theo qu định tại khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt, trong đó ngu ên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được To án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt kh ng có lý do; căn cứ Điều 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến h nh xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ h n nhân: Chị Ngu ễn Thị T v anh Dư Bảo K kết h n trên cơ sở tự ngu ện v có đăng ký kết h n hợp pháp. Mâu thuẫn gia đình xả ra, theo ngu ên đơn trình b l do vợ chồng ở cách xa nhau vì c ng việc, nên ít quan tâm đến nhau; sau khi sinh con, một mình chị Ngu ễn Thị T tự chăm sóc. Đặc biệt l trong thời gian sống xa cách nhau, nhưng anh Dư Bảo K lại công khai trên mạng xã hội mối quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến l m chị Ngu ễn Thị T tổn thương tinh thần. Anh Dư Bảo K kh ng có động thái sửa chữa sai lầm v để mặc tình trạng vợ chồng không còn sự quan tâm, t n trọng lẫn nhau. Vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 5 năm 2021, chị Ngu ễn Thị T đã kh ng còn ở nh chồng và cùng con trai chu ển về nh ngoại tại Nghệ Anh sinh sống đến na . Bản thân chị Ngu ễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng kh ng còn, êu cầu được l h n để được giải thoát khỏi cuộc sống h n nhân kh ng hạnh phúc.
B Bùi Thị T1 (mẹ ruột của anh Dư Bảo K) trình b giữa vợ chồng con trai b có mâu thuẫn do vợ chồng sống xa nhau, c ng việc bận rộn ít về nh thăm vợ con v quan tâm đến vợ con, b thương con dâu một mình chăm sóc con nhỏ. Biết vợ chồng xích mích cãi nhau do nghi ngờ con trai b ngoại tình, b đã cùng gia đình hai bên nội ngoại khu ên giải nhưng không có kết quả; nên b cũng đồng ý việc vợ chồng l h n. Từ những nhận định nêu trên, xét th mâu thuẫn giữa chị Ngu ễn Thị T v anh Dư Bảo K đã thực sự trầm trọng, đời sống chung hiện kh ng tồn tại, mục đích h n nhân kh ng đạt được; êu cầu l h n của ngu ên đơn l có căn cứ nên được ch p nhận theo qu định tại khoản 1 Điều 56 Luật H n nhân v gia đình.
Về con chung: Xem xét êu cầu của ngu ên đơn được trực tiếp nuôi con chung th rằng hiện tại, chị Ngu ễn Thị T đang có chỗ ở, c ng việc l m có thu nhập ổn định, đảm bảo khả năng nu i sống bản thân v người con chung sinh hoạt học tập bình thường như những đứa trẻ khác. Trong khi đó, anh Dư Bảo K kh ng hợp tác khi được Tòa án triệu tập, hiện đang đi l m ăn xa v cũng không có văn bản thể hiện êu cầu nu i con, kh ng cung c p t i liệu chứng cứ, chứng minh khả năng, điều kiện nu i con. Việc phân định trách nhiệm nu i con của ngu ên đơn l phù hợp với điều kiện sống, ho n cảnh thực tế của bố mẹ các cháu, khả năng phát triển tâm sinh lý của con chưa th nh niên đồng thời cũng phù hợp với ý kiến của b Bùi Thị T1 l để cho chị Ngu ễn Thị T nuôi con do anh Dư Bảo K đi l m xa, c ng việc kh ng phù hợp việc chăm sóc con nhỏ.
Thực tế cho th cháu Dư Gia B, sinh ng 31/10/2019, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm chưa đủ 36 tháng tuổi nên ngu ên đơn êu cầu được trực tiếp nu i cháu bé l ho n to n phù hợp với qu định của pháp luật tại khoản 3 Điều 81 Luật H n nhân v gia đình. Để đảm bảo qu ền lợi về mọi mặt của con chưa th nh niên, sự ổn định trong sinh hoạt, học tập, cần giao con chung cho chị Ngu ễn Thị T trực tiếp tr ng nom, nu i dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng th nh, đủ 18 tuổi.
Về nghĩa vụ c p dưỡng nu i con chung: Do ngu ên đơn kh ng có yêu cầu nên Hội đồng xét xử kh ng xem xét, giải qu ết.
Việc giao con cho người trực tiếp nu i con v êu cầu c p dưỡng nu i con, các bên đương sự có qu ền đề nghị tha đổi trong quá trình nu i dưỡng sau n theo qu định pháp luật.
Về t i sản chung v khoản nợ chung: Không có; đương sự kh ng êu cầu nên Hội đồng xét xử kh ng xem xét giải qu ết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự v điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị qu ết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủ ban thường vụ Quốc Hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án, chị Ngu ễn Thị T l người có đơn êu cầu l h n nên phải chịu án phí l h n sơ thẩm.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến h nh v tham gia tố tụng l đúng thực tế, phù hợp với t i liệu thu thập trong hồ sơ v diễn biến tranh tụng tại phiên tòa. Đối với quan điểm về việc đề nghị giải qu ết nội dung vụ án; đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra được các nhận định, đánh giá chứng cứ, căn cứ để ch p nhận to n bộ êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn l phù hợp với đường lối, định hướng giải qu ết vụ án của Hội đồng xét xử nên được ch p nhận.
Các đương sự có qu ền kháng cáo Bản án theo qu định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ v o khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; các khoản 2, 4 Điều 147 v khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51 v các Điều 33, 56, 57, 59, 81, 82, 83 của Luật h n nhân v gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ng 30 tháng 12 năm 2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
Quan hệ h n nh n:
Xử cho chị Ngu ễn Thị T được l h n với anh Dư Bảo K.
(Đăng ký kết h n số 17 ng 12/3/2018 của U ban nhân dân thị tr n H, hu ện H, tỉnh Lạng Sơn).
2. Con chung:
Chị Ngu ễn Thị T được qu ền trực tiếp nu i dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Dư Gia B, sinh ngày 31/10/2019 cho đến khi con chung trưởng th nh, đủ 18 tuổi.
Anh Dư Bảo K có qu ền, nghĩa vụ thăm nom con chung, kh ng ai được cản trở.
Anh Dư Bảo K kh ng phải c p dưỡng nu i con chung do chị Ngu ễn Thị T kh ng có êu cầu.
3. Tài sản chung, khoản nợ chung: Không có; kh ng êu cầu Tòa án xem xét giải qu ết.
4 Về án phí:
Chị Ngu ễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí l h n sơ thẩm để nộp Ngân sách nh nước; xác nhận đã thi hành đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0004271 ngày 30/5/2022, tại Chi cục Thi h nh án dân sự hu ện H, tỉnh Lạng Sơn.
5 Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có qu ền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng , kể từ ng nhận được bản án hoặc ng bản án được niêm ết theo qu định của pháp luật.
Trường hợp bản án, qu ết định được thi h nh theo qu định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có qu ền thỏa thuận thi h nh án, qu ền êu cầu thi h nh án, tự ngu ện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo qu định tại các điều 6, 7 v 9 Luật thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.
| Nơi nhận: -To án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân hu ện Hữu Lũng; - Chi cục THADS hu ện H; - UBND thị tr n Hữu Lũng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Mạnh Cƣờng |