vanban.org

Bản án 25/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị S.

Về hôn nhân: Cho chị Thạch Thị S ly hôn với anh Trần Quốc Th. Về quyền, nghĩa vụ đối với con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN H
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST
Ngày 22-7-2022
V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN H, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Thanh Hùng

2. Ông Trần Đạt Thông

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Mau - kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị S, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp Tà Rom B, xã Đôn Ch, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh. Đề nghị xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Anh Trần Quốc Th, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp Tà Rom A, xã Đôn Ch, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không lý do

- Con chung: Cháu Trần Quốc Đ, sinh ngày 12/4/2017.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 07 tháng 02 năm 2022, lời khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thạch Thị S trình bày yêu cầu:

Về hôn nhân, năm 2016 chị và anh Th tự nguyện kết hôn với nhau và đăng ký tại UBND xã Đôn Ch, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh. Quá trình làm dâu sống chung nhà anh Th (ấp Tà Rom A, xã Đôn Ch) hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2021 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, do anh Th thường đánh chị nên ngày 18/3/2021 chị dẫn con về nhà cha mẹ ruột (ấp Tà Rom B, xã Đôn Ch) sinh sống cho đến nay, do không còn tình cảm yêu thương anh Th nên chị không muốn đoàn tụ, chị yêu cầu được ly hôn với anh Th.

Về con chung, chị và anh Th có 01 con chung là cháu Trần Quốc Đ, sinh ngày 12/4/2017. Hiện chị đang nuôi con nên sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con tiếp và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con, thu nhập mỗi tháng của chị khoảng từ 9.000.000đ, 10.000.000đ – 12.000.000đ nên đủ khả năng nuôi con.

Về quyền tài sản chung, chị và anh Th có 01 xe mô tô, chị không yêu cầu chia khi ly hôn, đồng ý giao cho anh Th sở hữu, vì hiện do anh Th sử dụng.

Về nghĩa vụ tài sản chung, không có nên không yêu cầu gì.

Chị Thạch Thị S yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị và anh Th.

Tại biên bản xác minh ngày 26/5/2022 đối với ông Kiên R cho biết: Ông là Trưởng Ban nhân ấp Tà Rom A, xã Đôn Ch, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh. Anh Th và chị S là vợ chồng và sống tại địa phương một thời gian. Nhưng khoảng 01 – 02 năm gần đây không biết vì nguyên nhân gì họ xảy ra mâu thuẫn và không còn sống chung cho đến nay. Quá trình sống chung họ chưa từng yêu cầu địa phương giải quyết vấn đề mâu thuẫn gia đình.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành việc có mặt theo thông báo, giấy triệu tập và đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn thì không chấp hành, vắng mặt không lý do.

Về việc giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện, chị Thạch Thị S tự nguyện tiến tới hệ hôn nhân với anh Trần Quốc Th và đăng ký kết hôn năm 2017, thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2021 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do anh Th thường xuyên đánh chị S nên chị S yêu cầu được ly hôn.

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: nhận thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị S và anh Th đã ngày càng nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không hạnh phúc, không thể kéo dài. Do đó, chị S yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận; con chung là cháu Trần Quốc Đ, sinh ngày 12/4/2017 chị S yêu cầu nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung chị S không yêu cầu chia, đồng ý giao hết cho anh Th sở hữu gồm: 01 xe mô tô do anh Th đang sử dụng; Nợ chung không có.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân, chấp nhận cho chị Thạch Thị S được ly hôn với anh Trần Quốc Th; Về con chung, giao cháu Trần Quốc Đ, sinh ngày 12/4/2017 cho chị S nuôi dưỡng tiếp và chị S không yêu cầu cấp dưỡng nên không giải quyết; Tài sản chung, chị S cũng không yêu cầu chia khi ly hôn nên đề nghị không giải quyết; Nợ chung không có nên đề nghị không giải quyết.

Án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị đề nghị cần khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sự vắng mặt tại phiên tòa của chị Thạch Thị S là đề nghị xét xử vắng mặt. Riêng anh Trần Quốc Th vắng mặt đến lần thứ hai không lý do mà không có đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Xét thấy, việc cấp, tống đạt thông báo, quyết định, giấy triệu tập giao cho anh Thái là người trực tiếp nhận. Căn cứ vào Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại đơn khởi kiện, các lời khai của chị Thạch Thị S cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do anh Trần Quốc Th nhiều lần đánh chị dẫn đến vợ chồng không hạnh phúc và thời điểm giải quyết ly hôn hai người không còn sống chung, không còn tình cảm thương anh Th, chị kiên quyết yêu cầu ly hôn. Đối với anh Trần Quốc Th vắng mặt nên không có lời khai, nhưng trước khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án có thông báo hòa giải bằng văn bản, đồng thời có tống đạt trực tiếp cho anh Th nhận, nhưng anh không có mặt và không có văn bản phản đối. Xét hôn nhân của anh Th và chị S là hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, thể hiện tại giấy chứng nhận kết hôn số: 47/2017, đăng ký ngày 17/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đôn Ch, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh. Thời điểm giải quyết, xét xử hai người không sống chung, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mỗi người có cuộc sống, công việc riêng, hai bên không mong muốn hàn gắn đoàn tụ. Do đó, có cơ sở xác định hôn nhân của hai người xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn trở về tiếp tục sống chung. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thạch Thị S ly hôn với anh Trần Quốc Th.

Quyền, nghĩa vụ đối với con chung, chị Thạch Thị S khai có con chung là cháu Trần Quốc Đ, sinh ngày 12/4/2017 hiện ở chung chị S và chị S yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu cấp dưỡng. Tòa án đã có giải thích cho đương sự về quyền, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của người không trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật, nhưng chị S không yêu cầu. Nhận thấy, việc chị Sonh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Đối với anh Trần Quốc Th không có văn bản phản đối hoặc yêu cầu về con chung, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử xác định chấp nhận giao cháu Trần Quốc Đ cho chị Sonh trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về quyền đối với tài sản chung, chị Thạch Thị S khai có 01 xe mô tô hiện do anh Th quản lý, sử dụng. Nhưng chị S không yêu cầu. Xét việc chị S không yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, anh Th không có văn bản phản đối hoặc yêu cầu gì khác nên không giải quyết chung trong vụ án.

Về nghĩa vụ đối với tài sản chung, chị Thạch Thị S khai không có và không yêu cầu gì khác, anh Trần Quốc Th không có văn bản phản đối hoặc yêu cầu gì khác nên không giải quyết chung trong vụ án.

Quan điểm phát biểu của Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nhưng do đương sự là người dân tộc Khmer sống ở địa bà kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn yêu cầu miễn tiền án phí theo các điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi nộp đơn khởi kiện nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ cào các Điều 12,14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị S.

1. Về hôn nhân: Cho chị Thạch Thị S ly hôn với anh Trần Quốc Th.

2. Về quyền, nghĩa vụ đối với con chung:

Giao cháu Trần Quốc Đ, sinh ngày 12/4/2017 cho chị Thạch Thị S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Vấn đề nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về quyền đối với tài sản chung: Không giải quyết.

4. Về nghĩa vụ đối với tài sản chung: Không giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn cho chị Thạch Thị S.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hợp lệ hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ