vanban.org

Bản án 25/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Viết X, xử cho anh Nguyễn Viết X được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Kiều Tr, sinh ngày 27/01/2012 và Nguyễn Kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN VIẾT X - NGUYỄN THỊ H"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HNGĐ – ST
Ngày 26 - 8 - 2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đỗ Quốc Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Thúy Vinh và bà Nguyễn Thùy Hương.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị H ng Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên tòa: không.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 23/2029/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Viết X, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987.

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Viết X trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H tìm hiểu, yêu đương và đăng ký kết hôn vào ngày 29/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H ng Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ ch ng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ ch ng không cùng suy nghĩ, không chia sẻ được với nhau về mọi vấn đề trong cuộc sống nên thường xuyên cải vã. Cho đến cuối năm 2014 vợ tự ý bỏ nhà ra đi vào Miền nam làm ăn, vợ ch ng ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa, anh đã nhiều lần liên hệ để vợ ch ng về với nhau cho gia đình sum họp nhưng chị H không về và bảo không muốn liên quan gì đến nhau nữa. Hiện tình cảm không còn, mâu thuẫn không thể hóa giải nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Tại đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Viết X tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 29/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H ng Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn vợ ch ng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đ ng quan điểm sống. Sau đó nhận thấy tình cảm đã hết nên chị bỏ nhà ra đi vào Miền nam làm ăn từ khoảng cuối năm 2014 cho đến nay. Hiện vợ ch ng không còn quan tâm đến nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nay anh X làm đơn xin ly hôn chị thì chị cũng đ ng ý ly hôn anh X. Chị đã nhận được giấy Thông báo thụ lý vụ án và giấy Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cùng các giấy triệu tập do Tòa án gửi cho chị để chị đến Tòa án làm việc nhưng do hiện bận công việc nên chị không về được theo yêu cầu của Tòa án. Vì vậy, chị làm đơn xin được giải quyết và xét xử vắng mặt chị.

Về con chung: Anh X và chị H thống nhất trình bày, vợ ch ng có 02 con chung là Nguyễn Thị Kiều Tr, sinh ngày 27/01/2012 và Nguyễn Khánh A, sinh ngày 29/12/2014. Anh X có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con, không yêu cầu chị H phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con. Chị H cũng có nguyện vọng giao lại 02 con chung cho anh X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, do anh X không yêu cầu đóng góp tiền nuôi con nên chị không đóng góp.

Về tài sản, nợ chung: Anh X và chị H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:

1 Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Viết X cùng các chứng cứ, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện, Tòa án xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu, giấy tờ theo đúng quy định, chị Nguyễn Thị H đã nhận được và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt chị. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Viết X và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cấp có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn, lẽ ra vợ ch ng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, thông cảm và tạo điều kiện về mọi mặt trong cuộc sống để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng do vợ ch ng tính tình không hợp, bất đ ng quan điểm sống, vợ ch ng không có tiếng nói chung nên thường xảy ra cải vã, vợ ch ng đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Hiện cả anh X và chị H đều khẳng định vợ ch ng không còn tình cảm với nhau nữa, anh X mong muốn được ly hôn chị H, chị H cũng đ ng ý chấp thuận. Vì vậy, Hội đ ng xét xử thấy mâu thuẫn vợ ch ng đã căng thẳng, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Thọ là phù hợp với điều kiện thực tế của hai bên và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Xét nguyện vọng của anh X, chị H đều mong muốn giao 02 con chung là Nguyễn Thị Kiều Tr, sinh ngày 27/01/2012 và Nguyễn Khánh A, sinh ngày 29/12/2014 cho anh X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, chị H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với các quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

[5 Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Viết X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6 Quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị H.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Viết X, xử cho anh Nguyễn Viết X được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

3. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Kiều Tr, sinh ngày 27/01/2012 và Nguyễn Khánh A, sinh ngày 29/12/2014 cho anh Nguyễn Viết X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị Nguyễn Thị H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh X.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cũng như có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí: Anh Nguyễn Viết X phải nộp toàn bộ tiền án phí sơ thẩm ly hôn 300.000 đ ng (ba trăm nghìn đ ng) để sung vào công quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh X đã nộp tại Biên lai số 0003156 ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, anh X đã nộp đủ tiền án phí.

6. Án xử sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ