- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, vệ sinh môi trường... — án dân sự — "Trương Thị Thủy T1 là Chủ DNTN Nhật M - Công ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6 -"Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận háng cáo của bị đơn C ng ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6, chấp nhận háng nghị của Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân t nh on Tum, chấp nhận một phần háng nghị của Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân thành phố on Tum.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ản án số: 25/2022/DS-PT Ngày: 27/9/2022 V/v Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tỷ
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Như Mai
Ông Nguyễn Minh Thành.
- Thư ký phiên toà: à R an Tiên - Thư T a án nhân dân t nh on Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Thủy - iểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở T a án nhân dân t nh on Tum xét xử phúc thẩm c ng hai vụ án dân sự thụ l số 10/2022/TLPT-DS ngày 29/4/2022 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 24/3/2022 của T a án nhân dân thành phố on Tum, t nh on Tum bị háng cáo, háng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2022/QĐ-PT ngày 29 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: à Trương Thị Thuỷ Tiên, sinh năm: 1974 - à chủ Doanh nghiệp tư nhân Nhật M; (Có mặt)
Địa ch : Th n 8, xã D, huyện Đ, t nh on Tum.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: à Trương Thị Tú T2, sinh
năm: 1976; Địa ch : Thôn 8, xã D, huyện Đ, t nh on Tum. (Vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Vũ Văn , uật sư thuộc Văn ph ng uật sư K, Đoàn uật sư t nh Gia ai; Địa ch : Số 12 Đ, phường I, thành phố P, t nh Gia ai. (Có mặt).
2. Bị đơn: C ng ty Cổ phần đầu tư thủy điện ĐP 6, địa ch : Số 79A T, phường N, thành phố K, t nh on Tum.
Người đại diện theo pháp luật: Ông ê Văn , chức vụ: Giám đốc. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Chí Hải, uật sư Văn ph ng uật sư G – Chi nhánh B, Đoàn uật sư t nh ình Dương; Địa ch : Đường D5-5A trung tâm hành chính huyện B, thị trấn U, huyện B, t nh ình Dương. (Có mặt).
3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: C ng ty cổ phần tư vấn xây dựng P; địa ch trụ sở: Số 310, đường S, phường , thành phố K, t nh on Tum.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hữu Phong, chức danh: Giám đốc. (Vắng mặt)
Địa ch : Số 70 Huỳnh Thúc , Tổ 4, phường T, thành phố K, t nh on Tum.
4. Ngƣời kháng cáo ị đơn là C ng ty Cổ phần đầu tư thủy điện ĐP 6.
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân thành phố on Tum và Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân t nh on Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/5/2020, đơn bổ sung đơn khởi kiện ngày 03/8/2020 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Trương Thị Thủy T1 – Chủ Doanh nghiệp tư nhân Nhật M trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết:
Doanh nghiệp tư nhân Nhật M (sau đây viết tắt là Doanh nghiệp) đăng
inh doanh hoạt động ngành nghề hai thác hoáng sản (cát xây dựng), đã được U ND t nh on Tum cấp Giấy phép hai thác hoáng sản số 65/GP-UBND ngày 16/01/2018. Sau hi hoàn tất các thủ tục hành chính đúng theo quy định của pháp luật, Doanh nghiệp đã tiến hành hoạt động hai thác cát từ ngày 25/01/2018. Vào hoảng tháng 12/2019, Doanh nghiệp phát hiện C ng ty cổ phần Đầu tư Thủy điện ĐP 6 đã có hành vi đào đất đổ trực tiếp xuống d ng s ng Đắ Psi, ngay phía trên đầu mỏ hai thác cát, dẫn đến bùn đất tr i chảy xuống mỏ cát, là nguyên nhân gây thiệt hại đến việc hai thác và inh doanh cát của Doanh nghiệp. Doanh nghiệp đã nhiều lần phản ánh, hiếu nại, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng h ng được giải quyết. Chính quyền địa phương đã nhiều lần trực tiếp xác minh tại hiện trường, lập biên bản về hành vi vi phạm đào đất đổ trực tiếp xuống l ng s ng của C ng ty, nhưng C ng ty vẫn cố tình h ng hợp tác, mà vẫn cố tiếp tục hành vi vi phạm đào đất đổ trực tiếp xuống l ng s ng.
Tại đơn hởi iện ngày 04/5/2020 và đơn bổ sung đơn hởi iện ngày 03/8/2020, nguyên đơn yêu cầu C ng ty cổ phần Đầu tư Thủy điện ĐP 6 (sau đây viết tắt là C ng ty ĐP 6) bồi thường thiệt hại các hoản tổng cộng là 1.504.697.000 đồng.
Sau hi có ết quả thẩm định, tại đơn sửa đổi bổ sung đơn hởi iện ngày 21/02/2022 nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu hởi iện, ch yêu cầu C ng ty ĐP 6 bồi thường thiệt các hoản thành tiền là: 418.123.966 đồng. Cụ thể:
1. Khoản thiệt hại do không khai thác đủ khối lƣợng cát đƣợc phép khái thác (tài sản bị mất):
1.1. Căn cứ xác định hối lượng cát h ng hai thác được: Theo Giấy phép, Doanh nghiệp được phép khai thác 7.840m3/năm. Năm 2020 hai thác được 510m3, năm 2021 hai thác được 1.501m3. Như vậy, xác định lượng cát h ng hai thác được của năm 2020 và 2021 là 13.669 m3. Trong đó: năm 2020 là: 7.840m3 - 510m3 = 7.330 m3, năm 2021 là: 7.840m3 - 1.501 m3 = 6.339 m3.
1.2. Căn cứ tính lợi nhuận thu được sau thuế của 1m3 cát: Căn cứ “Tờ hai thuế tài nguyên” đã quyết toán với Cơ quan Chi cục thuế huyện Đă T , thì sản lượng cát đã hai thác của năm 2019 là 4.020m3, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp là 70.007.447 đồng. Như vậy xác định 01m3 cát Doanh nghiệp thu được lợi nhuận sau thuế là 70.007.447 đồng/4.020m3 = 17.414 đồng.
1.3. Căn cứ hối lượng cát h ng hai thác được của năm 2020 và 2021, Căn cứ lợi nhuận thu được sau thuế của 1m3 cát, thì xác định hoản tiền bị thiệt hại của năm 2020 và 2021 là 238.031.966 đồng. Trong đó: Năm 2020 là 127.644.620 đồng (7.330m3 cát x 17.414 đồng/m3); Năm 2021 là 110.387.346 đồng (6.339m3 cát x 17.414 đồng/m3).
2. Khoản yêu cầu thứ hai: Chi phí để hắc phục mỏ cát với số tiền 167.092.000 đồng.
Căn cứ ết quả thẩm định hiện trạng mỏ cát do Toà án nhân dân thành phố on Tum trưng cầu giám định, xác định lượng bùn sét hiện có trong diện tích mỏ cát là 1.129,05 m3. Doanh nghiệp phải chi phí để hắc phục mỏ cát để hai thác được bình thường với số tiền là 167.092.000 đồng. Trong đó:
- Chi phí nạo vét, hút bùn từ l ng s ng lên bờ là 99.352.000 đồng (1.129m3 x 88.000 đồng/m3);
- Chi phí mút bùn lên xe là: 11.290.000 đồng (1.129m3 x 10.000 đồng/m3);
- Chi phí thuê xe chở đến bãi đổ là: 56.450.000 đồng (1.129m3 x 50.000 đồng/m3);
3. Khoản yêu cầu thứ ba: Chi phí thuê thẩm định xác thiệt hại làm căn cứ hởi iện là 13.000.000 đồng.
Sau hi diện tích mỏ cát bị nhiễm do hành vi sả thải của C ng ty ĐP 6, Doanh nghiệp đã hợp đồng inh tế ỹ thuật với C ng ty TNHH dịch vụ thương mại xây dựng Nam Nguyên, tại hợp đồng số 04/HĐ T/NN ngày 22/5/2020 để xác định, đánh giá tính chất và mức độ thiệt hại, xác định hiện trạng bùn sét bồi lắng tại mỏ cát của Doanh nghiệp, để làm căn cứ hởi iện. Với số tiền thuê thẩm định là 13.000.000 đồng theo hoá đơn VAT số 0000067 ngày 30/5/2021. Đây là hoản chi phí (thiệt hại) thực tế của Doanh nghiệp đã bỏ ra để xác định hiện trạng lượng bùn sét bồi lắng từ hoạt động đổ thải đất, đá ra s ng Đă Psi của C ng ty ĐP 6, nên C ng ty ĐP 6 phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại này cho Doanh nghiệp.
Tài liệu chứng cứ mà Doanh nghiệp làm căn cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình gồm: ết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/5/2021 của T a án nhân dân thành phố on Tum; áo cáo ết quả hoan hảo sát hiện trạng bùn sét bồi lắng tại mỏ cát làm V XD th ng thường ngày 27/5/2020 của C ng ty TNHH dịch vụ thương mại xây dựng Nam Nguyên; áo cáo hiện trạng mỏ cát làm vật liệu xây dựng th ng thường, ngày 07/6/2021 của iên Đoàn quy hoạch và điều tra nước Miền Trung; và các biên bản làm việc, các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền mà có liên quan đến hành vi đổ đất đá xuống l ng s ng ĐP của C ng ty, đã được nguyên đơn giao nộp cho T a án.
Bị đơn Công ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
C ng ty h ng chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của nguyên đơn. C ng ty có đủ điều iện pháp l về đầu tư, đất đai, m i trường, đáp ứng đủ điều iện hởi công công trình theo quy định tại Điều 107 uật xây dựng năm 2014. Đã được cấp phép thi c ng các hạng mục c ng trình. Quá trình thi c ng đã có sự phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan chức năng, xác định vị trí đổ đất đá thải, phế thải, xây dựng thực bì phát sinh, xây dựng è chắn, rọ đá chân các bãi thải để ph ng chống đất đá cuốn tr i xuống s ng Đă Psi. Đã thực hiện việc giám sát quá trình xói lở hai bờ s ng phía hạ lưu đập. Đã xây dựng phương án, giải pháp phù hợp, hắc phục các tác động tiêu cực do sạt lở đất đá hai bên bờ s ng Đă Psi. Các nội dung này được thể hiện tại quyết định số 2120/QĐ-BTNMT ngày 20/8/2020. Từ hi triển hai thủy điện, c ng ty chưa bị cơ quan chức năng lập biên bản, xử phạt hành chính trong các lình vực có liên quan.
Nguyên nhân chính dẫn tới lượng bùn sét bồi lắng tại d ng s ng Đă Psi là do có nhiều nhánh suối đổ vào l ng s ng. Cụ thể phía trên của thủy điện ĐP 6 có 16 nhánh suối đổ vào; và từ hoảng cách thủy điện đến mỏ cát của Doanh nghiệp cách 900m có 04 nhánh suối đổ vào s ng Đă Psi. Vào mùa mưa nước dâng cao d ng chảy mạnh dẫn tới lượng đất bồi lắng từ phía trên thủy điện chảy xuống cùng 20 nhánh suối nhỏ hiến cho lượng bồi lắng bùn sét của d ng s ng lớn. Doanh nghiệp h ng xem xét đến các yếu tố tự nhiên là nguyên nhân chính này, mà ch dựa vào hành vi đổ đất xuống long s ng của cá nhân hoặc tổ chức hác ngoài ngoài C ng ty để lấy cớ yêu cầu c ng ty bồi thường là h ng có căn cứ pháp l .
Doanh nghiệp đã được cấp giấy phép hai thác hoáng sản số 65/GP-UBND ngày 16/01/2018, nhưng chưa được cấp có thẩm quyền là Sở tài nguyên và m i trường xác nhận đã hoàn thành các quy định tại giấy phép để được phép hai thác. Do đó doanh nghiệp đã hai thác trái phép hoáng sản. Doanh nghiệp chưa được phép hai thác do chưa được xác nhận đủ điều iện, nhưng yêu cầu bồi thường thiệt hại do có tác động bằng cơ giới vào hu vực s ng là h ng hợp l .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần tư vấn xây dựng P trong quá trình giải quyết vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng không nêu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
- Kết quả thẩm định:
1. Tại áo cáo ết quả hoan hảo sát hiện trạng bùn sét bồi lắng tại mỏ cát làm V XD th ng thường l ng s ng Đă Psi, thuộc Thôn 5, xã Diên Bình, huyện Đă T và Th n 5, xã Đă ong, huyện Đă Hà, t nh Kon Tum, ngày 27/5/2020 của C ng ty TNHH dịch vụ thương mại xây dựng Nam Nguyên (Do nguyên đơn thuê thẩm định). ết luận:
- ớp bùn sét nằm bên dưới lớp cát từ 0,3m – 0,7m. ề dày lớp bùn sét trong diện tích được phê duyệt trữ lượng cát xây dựng cấp 121 từ 0,3m – 0,9m, trung bình là 0,52m;
- hối lượng bùn sét trong diện tích được phê duyệt trữ lượng cát xây dựng cấp 121 là: 5.172 m3.
2. Tại áo cáo hiện trạng mỏ cát làm vật liệu xây dựng th ng thường thuộc Th n 5, xã Diên ình, huyện Đă T và Th n 5, xã Đă ong, huyện Đă Hà, t nh on Tum, ngày 07/6/2021 của iên Đoàn quy hoạch và điều tra nước Miền Trung (Do Tòa án làm chủ đầu tư – Thuê thẩm định). ết luận:
- ượng bùn sét có trong diện tích mỏ được cấp phép với hối lượng là: 1.129,05 m3.
- Đánh giá chất lượng cát tại thời điểm xác định hiện trạng so với chất lượng cát được cấp phép hai thác theo báo cáo ết quả thăm d :
+ Chất lượng cát ở thời điểm báo cáo thăm d được sử dụng để chế tạo tất cả các cấp bê t ng và mác vữa;
+ Chất lượng cát tại thời điểm xác định hiện trạng h ng sử dụng được cho cấp bê t ng lớn hơn mác 30.
+ ượng cát h ng sử dụng được cho chế tạo vữa là: 3.920,47m3.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2022/DS-ST ngày 24/3/2022 của T a án nhân dân thành phố on Tum, t nh on Tum đã quyết định:
Căn cứ hoản 6 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a hoản 1 Điều 39 và điểm b hoản 2 Điều 227 của ộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ hoản 1 Điều 584, hoản 1 Điều 585, Điều 589 của ộ luật Dân sự.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện về “Yêu cầu bồi thường thiệt hại bãi cát” của nguyên đơn bà Trương Thị Thuỷ T1 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân Nhật M đối với C ng ty Cổ phần đầu tư thủy điện ĐP 6. Xử:
uộc C ng ty Cổ phần đầu tư thủy điện ĐP 6 phải bồi thường thiệt hại cho bà Trương Thị Thuỷ T1 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân Nhật M số tiền 418.123.966 ( ốn trăm mười tám triệu, một trăm hai ba nghìn, chín trăm sáu mươi sáu) đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm c n tuyên về nghĩa vụ chậm trả, chi phí tố tụng, án phí và quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/4/2022, bị đơn C ng ty cổ phần Đầu tư Thủy điện có đơn háng cáo toàn bộ bản án, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 04/4/2022, Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân thành phố on Tum ban hành Quyết định háng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS, đề nghị sửa bản án sơ thẩm. Ngày 22/4/2022, Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân t nh on Tum ban hành Quyết định háng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên t a phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu hởi iện, bị đơn giữ nguyên nội dung đơn háng cáo. Các bên đương sự h ng thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh on Tum phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm h ng đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ( ng Hà Văn Đ) vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6; việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được đầy đủ, h ng định giá tài sản bị thiệt hại, chưa xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của bị đơn. Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 24/3/2022 của T a án nhân dân thành phố on Tum, chuyển hồ sơ vụ án cho T a án nhân dân thành phố on Tum giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được iểm tra xem xét và ết quả tranh tụng tại phiên t a, sau hi đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Kon Tum phát biểu
iến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
háng cáo của bị đơn, các quyết định háng nghị được thực hiện theo quy định pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
T a án cấp sơ thẩm có một số vi phạm thủ tục tố tụng như sau:
Theo Giấy ủy quyền giữa người đại diện theo pháp luật của C ng ty ĐP 6 là ng ê Văn với bà Dương Thị im C ngày 04/8/2020 thể hiện ng hoa ch ủy quyền cho bà Cúc thực hiện trong phạm vi cụ thể là “thực hiện quyền của bị đơn, cụ thể: xem, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn” mà h ng ủy quyền cho bà C thực hiện toàn bộ quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trong vụ án nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà C là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trong một số hoạt động tố tụng, thể hiện qua biên bản phiên họp iểm tra việc tiếp cận c ng hai chứng cứ và h a giải ngày 25/12/2020 và 10/8/2021, biên bản h ng tiến hành được c ng hai chứng cứ và hỏa giải ngày 29/10/2018, biên bản lấy mẫu giám định, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến th ng báo thời gian mở lại phiên t a ngày 19/01/2022, là h ng đúng quy định.
Tại Quyết định hoãn phiên t a ngày 22/11/2021 nêu thời gian mở lại phiên t a sẽ được th ng báo sau. Tuy nhiên, đến ngày 22/12/2021 ban hành Thông báo mở lại phiên t a vào ngày 05/01/2022, ngày 31/12/2021 ban hành Thông báo mở lại phiên t a vào ngày 21/01/2022 là quá thời hạn 01 tháng ể từ ngày ra quyết định hoãn phiên t a, vi phạm quy định tại hoản 1 Điều 233 ộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về tính hợp pháp trong việc hai thác cát của DNTN Nhật M:
Theo văn bản số 1872/STNMT-TTr ngày 12/7/2022 của Sở Tài nguyên và M i trường t nh on Tum có nội dung: “Đến thời điểm ngày 19/4/2019, DNTN Nhật M thực hiện đầy đủ theo quy định nội dung Giấy phép số 65/GP-UBND ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh cấp. Tuy nhiên, qua rà soát quy định pháp luật có liên quan, tính đến thời điểm hiện tại DNTN Nhật M chưa hoàn thành việc lắp trạm cân (nội dung này DNTN Nhật M đã cam kết) và chưa chấp hành việc xử lý vi phạm hành chính tại Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường nên Sở Tài nguyên và Môi trường chưa có văn bản xác nhận việc hoàn thành các quy định tại Điều 65/GP-UBND ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Việc DNTN Nhật M chưa được xác nhận việc hoàn thành các quy định tại Điều 4 Giấy phép số 65/GP-UBND ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh nhưng đã tổ chức khai thác khoáng sản là chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ tính hợp pháp trong việc hai thác hoáng sản nhưng đã nhận định DNTN Nhật M h ng bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính hoặc bị nhắc nhở về hành vi vi phạm trong quá trình hai thác, hẳng định việc hai thác cát của Doanh nghiệp hợp pháp là h ng phù hợp.
Về xác định hành vi gây thiệt hại, chủ thể bồi thường thiệt hại
Công ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6 hợp đồng với C ng ty cổ phần tư vấn xây dựng P để thi c ng xây dựng, cung cấp vật tư, thiết bị, lắp đặt thiết bị và chuyển giao c ng nghệ dự án nhà máy đầu tư Thủy điện ĐP 6. Sau hi hợp đồng, C ng ty cổ phần tư vấn xây dựng P đã hợp đồng thuê ng Hà Văn Đ là nhà thầu phụ thi c ng một số hạng mục c ng trình. Trong quá trình thi công công trình thủy điện ĐP 6, nhà thầu là C ng ty P đã nhiều lần có hành vi đào đát, đá, san lấp mặt bằng lấy từ hạng mục xây dựng nhà máy, đổ đất xuống l ng s ng Đă Psi. iên bản vi phạm hành chính ngày 16/4/2020 của U ND xã Đ, huyện Đ về hành vi vi phạm hành chính trong việc thi c ng c ng trình thủy điện ĐP 6 thể hiện: Công ty P hợp đồng với cá nhân ng Hà Văn Đ (nhà thầu phụ) để thi c ng c ng trình, việc thi c ng đổ thải trực tiếp xuống l ng s ng Đă Psi do ng Hà Văn Đ tự thực hiện, ng Hà Văn Đ thừa nhận hành vi vi phạm của mình. Cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ liên quan đến hợp đồng thi c ng giữa C ng ty cổ phần tư vấn xây dựng P với ng Hà Văn Đ để có căn cứ xem xét C ng ty cổ phần tư vấn xây dựng P, ng Hà Văn Đ có lỗi dẫn đến thiệt hại hay h ng nhưng đã xác định chủ thể bồi thường toàn bộ thiệt hại cho nguyên đơn là Công ty ĐP 6 là có thiếu sót; đồng thời h ng đưa ng Hà Văn Đ tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định tại hoản 4 Điều 68 ộ luật tố tụng dân sự.
Về xác định mức bồi thường thiệt hại
Cấp sơ thẩm xác định số tiền bồi thường thiệt hại như sau: Thiệt hại = ( hối lượng cát được hai thác theo Giấy phép – hối lượng cát hai thác thực tế) x giá 1m3 cát (giá 1m3 cát = ợi nhuận sau thuế năm 2019/ hối lượng cát hai thác được năm 2019).
Cấp sơ thẩm xác định hối lượng cát h ng hai thác được năm 2020-2021 bằng cách lấy hối lượng hai thác theo giấy phép 7840m3/năm trừ hối lượng hai thác thực tế là h ng phù hợp. Vì năm 2019, hi C ng ty ĐP 6 chưa xả thải xuống s ng Đă Psi thì DNTN Nhật M ch hai thác cát được 4020m3/năm.
Các đương sự h ng thỏa thuận về giá trị thiệt hại nhưng cấp sơ thẩm h ng tiến hành định giá hay giám định thiệt hại, mà căn cứ vào “Tờ hai thuế tài nguyên” của DNTN Nhật M tại Chi cục Thuế hu vực số 2 t nh on Tum để xác định giá mỗi 1m3 cát là 17.414đ (bằng lợi nhuận sau thuế năm 2019 chia cho hối lượng cát hai thác được năm 2019) là có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, dẫn đến việc xác định mức bồi thường thiệt hại h ng hách quan, chính xác.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ mà cấp phúc thẩm h ng thể thực hiện bổ sung, hắc phục được và có vi phạm thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự nên cần chấp nhận háng cáo của bị đơn C ng ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6, chấp nhận háng nghị của Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân t nh on Tum và chấp nhận một phần háng nghị của Viện iểm sát nhân dân thành phố on Tum, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho T a án cấp nhân dân thanh phố on Tum để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng được xác định lại hi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí:
Về án phí phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên ông C ng ty cổ phần đầu tư Thủy điện Đă Psi 6 h ng phải chịu án phí phúc thẩm.
Về án phí sơ thẩm: Án phí sơ thẩm được xác định lại hi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ hoản 3 Điều 308, Điều 310 ộ luật tố tụng dân sự,
Chấp nhận háng cáo của bị đơn C ng ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6, chấp nhận háng nghị của Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân t nh on Tum, chấp nhận một phần háng nghị của Viện trưởng Viện iểm sát nhân dân thành phố on Tum.
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 24/3/2022 của T a án nhân dân thành phố on Tum. Chuyển hồ sơ vụ án cho T a án nhân dân thành phố on Tum giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng được xác định lại hi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, Điều 147 ộ luật tố tụng dân sự, Điều 6, Điều 18, Điều 19, Điều 24, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
C ng ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6 h ng phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho C ng ty cổ phần đầu tư Thủy điện ĐP 6 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí T a án số AA/2021/0000749 ngày 12/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố on Tum, t nh on Tum.
Án phí sơ thẩm được xác định lại hi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - V SND t nh on Tum; - TAND TP Kon Tum; - Chi cục THADS TP Kon Tum; - Đương sự; - ưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tỷ |