- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN TỈNH TN –––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HSST Ngày 25 tháng 02 năm 2021 |
NHÂN DANH
N C C N
C N
V
N M
N N N N
N
Ố TN, TỈNH TN
:
Th m phán - Ch t a phiên t a: Ông Lê Quý M
Các Hội th m nh n d n: 1. Ông Nguyễn Khắc Thái S;
2. Ông Nguyễn Ngọc Đ.
Thư phiên t a: Bà Nguyễn Thanh H1 - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN, t nh Thái Nguyên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Ngọc V - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TN mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2021/HSST ngày 08 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:
Hoàng Thị Thu T, sinh năm 1994
HKTT: Tổ 5, phường GS, thành phố TN, t nh TN.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: hông; Tr nh độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Hoàng Việt D, sinh năm 1963; con bà Lê Thị T, sinh năm 1964; gia đ nh có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đ nh; chưa có chồng, có 01 con sinh năm 2014 Tiền án, Tiền sự: hông
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
*Người làm chứng:
1. Chị Đào Thị Huyền T1, sinh năm 1994, vắng mặt
Trú tại: Tổ 2, phường PX, thành phố TN, t nh TN
2. Anh Vũ Đ nh Tr, sinh năm 1991, vắng mặt
Trú tại: Tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố TN.
* Người chứng kiến:
Ông Đoàn Văn P, sinh năm 1955, vắng mặt
Trú tại: Tổ 4, phường HS, thành phố TN
N I DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19 giờ 40 phút ngày 12/01/2021, tại khu vực tổ 1, phường HS, thành phố TN, tổ công tác của Công an phường HS phát hiện 01 chiếc xe ô tô taxi BKS 20A – 231 84 bên trong có 03 người, gồm 01 người nam giới điều khiển xe và 02 người phụ nữ ngồi ở hàng ghế phía sau có biểu hiện nghi liên quan đến ma túy Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra người nam giới khai tên là Vũ Đ nh T, người phụ nữ thứ nhất khai tên là Hoàng Thị Thu T, người phụ nữ thứ hai khai tên là Đào Thị Huyền T1. Quá tr nh kiểm tra người của T, T, T1 không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài sản g Tiếp tục kiểm tra tổ công tác phát hiện và thu giữ ở dưới gối tựa đầu của hàng ghế phía sau bên trái xe ô tô taxi vị T T ngồi có 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 06 viên nén màu xanh lá cây và 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng T khai nhận 06 viên nén màu xanh lá cây là ma túy tổng hợp loại thuốc lắc, chất tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp loại etamine, toàn bộ số ma túy trên là của T mua về để sử dụng cho bản thân Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ 01 chiếc xe ô tô taxi BKS 20A – 231.84.
Hồi 00 giờ 10 phút ngày 13/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong, cân toàn bộ số viên nén màu xanh lá cây thu giữ của T có khối lượng 2,645 gam; số chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,604 gam.
Tại bản kết luận giám định số 273/ L- THS ngày 21/01/2021 của Phòng Kỹ thuật h nh sự Công an t nh TN kết luận: M u viên nén màu xanh trong b ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, có khối lượng là 2,645 gam; M u chất tinh thể màu trắng trong b ký hiệu T2 gửi giám định là chất ma túy, loại etamine, có khối lượng là 0,604 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Thị Thu T khai nhận: hoảng 19 giờ 00 phút ngày 12/01/2021, T cùng bạn là Đào Thị Huyền T1 bắt xe taxi của 01 người nam giới không quen biết đi từ khu chung cư Tiến Bộ, thuộc phường Quang Vinh, thành phố TN xuống khu vực trung tâm thành phố TN để mua một số đồ dùng cá nhân hi đi đến đường tròn trung tâm thành phố, T nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng cho bản thân nên T nói với người lái xe đưa đến khu vực ngã tư đèn tín hiệu giao nhau giữa đường Cách Mạng Tháng 8 với đường Phan Đ nh Phùng để t m mua ma túy Tại khu vực ngã tư đèn tín hiệu, T gặp và mua của 01 nam thanh niên tên “Đức” không rõ lai lịch địa ch 4 500 000 đồng được 06 viên ma túy loại thuốc lắc màu xanh được đựng trong 01 túi nilon màu trắng và 01 gói nilon màu trắng kích thước nhỏ hơn bên trong đựng ma túy loại etamine Sau khi mua được ma túy T cầm trong lòng bàn tay phải rồi tiếp tục cùng T1 đi xuống khu vực nhà máy Gang Thép, khi đi đến ngã tư đèn tín hiệu gần chợ Dốc Hanh đoạn thuộc tổ 1, phường HS, thành phố TN th tổ công tác của Công an phường HS yêu cầu dừng xe để kiểm tra Thấy vậy T đã lấy toàn bộ số ma túy để vào dưới gối tựa đầu của ghế sau xe taxi vị T T đang ngồi, tuy nhiên khi tổ công tác kiểm tra xe taxi đã phát hiện và thu giữ nên T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định T xác định trước, trong và sau khi T giao dịch mua ma túy th T1 và Đức không biết.
Vật chứng của vụ án: 02 b niêm phong kí hiệu T1, T2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói m u Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý; 01 chiếc xe ô tô taxi B S 20A – 231.84, quá trình điều tra xác định là xe của Công ty TNHH dịch vụ taxi Miền Bắc, hiện Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu quản lý sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSTPTN ngày 06/02/2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố Hoàng Thị Thu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị Thu T khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã mô tả.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Thu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Hoàng Thị Thu T từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.
H ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố TN, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Quá tr nh điều tra và tại phiên tòabị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.
[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá tr nh điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 19 giờ 50 phút ngày 12/01/2021 tại khu vực tổ 1, phường HS, thành phố TN, Hoàng Thị Thu T đang có hành vi tàng trữ 2,645 gam ma túy loại MDMA và 0,604 gam ma túy loại etamine, mục đích sử dụng cho bản thân th bị tổ công tác của Công an phường HS, thành phố TN phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo Hoàng Thị Thu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không ch xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, ma túy còn là hiểm họa cho xã hội, phát sinh các tệ nạn xã hội, làm khánh kiệt về kinh tế, suy kiệt giống nòi, do đó Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết bài trừ tệ nạn này ra khỏi xã hội, bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy nhưng v n phạm tội. Hành vi của bị cáo phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.
hi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: bị cáo chưa có tiền án tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về hình phạt bổ sung, qua xác minh tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản có giá trị, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4]. Về vật chứng vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[5]. Về các vấn đề khác:
Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Mức án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, song có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử xét cần giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ Hoàng Thị Thu T khai mua của người nam giới tên “Đức” không rõ lai lịch địa ch ở khu vực ngã tư đèn tín hiệu giao thông đường Cách Mạng tháng 8 giao nhau với phường Phan Đ nh Phùng, thành phố TN. Quá tr nh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không xác định được lai lịch địa ch của người nam giới trên nên không có cơ sở điều tra làm rõ xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với Đào Thị Huyền T1 (Sinh năm 1994, trú tại: Tổ 2 phường PX, thành phố TN) là người đi cùng T và Vũ Đ nh T (Sinh năm 1991, trú tại: Tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố TN) là người lái xe ô tô taxi Quá tr nh điều tra xác định T1 và T đều không biết việc T mua và tàng trữ ma túy trên xe ô tô nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 329 BLTTHS:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Thu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Xử phạt Hoàng Thị Thu T 27 ( Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2021.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 BLHS đối với bị cáo.
- Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[2]. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: + 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T1, có ghi hoàn trả 2,545 gam m u T1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói m u T1 vụ Hoàng Thị Thu T, sinh năm 1994, phạm tội về ma túy, mặt sau có 02 dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh TN và 02 chữ ký của Vũ Quang Huy, Nguyễn Thành Trung.
+ 01 b niêm phong đúng quy định ký hiệu T2, có ghi hoàn trả 0,505 gam m u T2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói m u T2 vụ Hoàng Thị Thu T, sinh năm 1994, phạm tội về ma túy, mặt sau có 02 dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh TN và 02 chữ ký của Vũ Quang Huy, Nguyễn Thành Trung.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 212 ngày 18/02/2021 giữa Công an thành phố TN và Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN).
[3]. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200 000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
[4]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND t nh TN; - VKSND t nh TN; - VKSND thành phố TN; - Công an thành phố TN; - THADS thành phố TN; - Trại tạm giam công an t nh TN; - Sở Tư pháp t nh TN; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu HS,VP | TM. H ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CH TỌA PHIÊN TÒA Lê Quý M |