vanban.org

Bản án 25/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

NGUYỄN QUANG T: 2 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/9/2021. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì số 146/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƢỚC SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/HSST
Ngày: 30/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC SƠN – TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Pơ Loong Đếch

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lê Đình Hương

+ Bà Nguyễn Thị Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Zơ Râm Quốc Sinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2021; tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2021/TLST-HS, ngày 18/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST-HS, ngày 19/11/2021 đối với bị cáo:

NGUYỄN QUANG T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1973; tại: Huyện T, tỉnh Q; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Q; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C (1937) và bà Trần Thị D (Chết). Tiền sự: Không; tiền án: Ngày 11/12/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt là 07 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2018 nhưng đến ngày 01/10/2021 bị cáo mới nộp xong tiền phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm. Nhân thân: Ngày 03/11/2011, bị Công an huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/9/2021 và tạm giam ngày 23/9/2021; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

* Người chứng kiến:

-Ông Lò Văn C; trú tại: Thôn 1, xã L, huyện P, tỉnh Q; vắng mặt.

-Ông Hồ Văn S; trú tại: Thôn 2, xã T, huyện P, tỉnh Q; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 21 giờ 40 phút ngày 16/9/2021, trước Trạm Ban quản lý bảo vệ rừng thuộc thôn 02, xã Phước Thành, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; Tổ công tác Công an huyện Phước Sơn và Công an xã Phước Thành đang tuần tra trên địa bàn xã Phước Thành thì phát hiện Nguyễn Quang T có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra đã phát hiện trong túi áo khoác bên trái của Nguyễn Quang T đang mặc có 01 gói thuốc lá PRINCE, bên trong gói thuốc có một gói giấy bạc chứa nhiều cục, bột chất rắn màu trắng và Nguyễn Quang T tự giao nộp thêm 01 gói giấy bạc bên trong cũng chứa nhiều cục, bột chất rắn màu trắng. Nguyễn Quang T khai nhận 02 gói giấy bạc mà Công an thu giữ có chứa nhiều cục, bột chất rắn màu trắng đều là chất ma túy (Heroine) của Nguyễn Quang T, mục đích tàng trữ là để sử dụng nên Tổ công tác Công an huyện Phước Sơn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Quang Trung và thu giữ tang vật.

Vật chứng thu giữ: 02 gói giấy bạc bên trong chứa nhiều cục, bột chất rắn màu trắng nghi là chất ma túy (Heroine) của Nguyễn Quang T.

Tại kết luận giám định số 146/PC09, ngày 20/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: Mẫu chất rắn dạng hạt - bột màu trắng gửi giám định (mẫu ký hiệu A) là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,119gam. Hoàn lại đối tượng giám định mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định, chỉ hoàn trả toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định (tất cả các đối tượng hoàn trả trong phong bì niêm phong số 146/PC09).

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSPS-HS, ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang T khai nhận: Lúc 21h 40 ngày 16/9/2021, bị cáo đang đứng trước Trạm Ban quản lý bảo vệ rừng thuộc thôn 2 xã Phước Thành, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam thì lực lượng Công an huyện Phước Sơn yêu cầu cho kiểm tra. Qua kiểm tra đã phát hiện trong túi áo khoác bên trái bị cáo đang mặc có 01 gói thuốc lá PRINCE, bên trong gói thuốc có 01 gói giấy bạc chứa nhiều cục, bột chất rắn màu trắng và bị cáo tự giao nộp thêm 01 gói giấy bạc bên trong cũng chứa nhiều cục, bột chất rắn màu trắng đều là chất ma túy (Heroine) của bị cáo. Số ma túy này bị cáo mua của một người tên Phước không rõ lai lịch vào ngày 16/9/2021 với giá 1.000.000 đồng, mục đích bị cáo mua 02 gói ma túy là để sử dụng cho bản thân (vì bị cáo nghiện ma túy), không có mục đích bán lại. Việc lực lượng Công an huyện Phước Sơn bắt quả tang đối với bị cáo là đúng pháp luật và số ma túy (Heroine) bị Công an thu giữ vào tối ngày 16/9/2021 là của bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị đánh đập, không bị ép cung, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.

Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quang T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, xét thấy: Tối ngày 16/9/2021, bị cáo Nguyễn Quang T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) thì bị lực lượng Công an huyện Phước Sơn bắt quả tang. Xét thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích để sử dụng vì bản thân bị cáo nghiện ma túy, không có mục đích để bán. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Nguyễn Quang T chưa có tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được xem là tình tiết giảm nhẹ; tình tiết tăng nặng: Ngày 11/12/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt là 7 năm 6 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2018 nhưng đến ngày 01/10/2021 bị cáo mới nộp xong hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm nên chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm”; nhân thân: Ngày 03/11/2011 bị Công an huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ: 1 năm 6 tháng – 2 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Quang T không có thu nhập và việc làm ổn định nên không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 146/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, bên trong là toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định.

Đối với người đàn ông tên Phước không rõ lai lịch mà bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn đã xác minh nhưng không có kết quả nên không đề cập.

Bị cáo Nguyễn Quang T không tranh luận gì, nhận tội và khẳng định việc khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của điều tra viên; của Viện kiểm sát, của kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang T không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Nên các hành vi và quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Quang T biết và nhận thức rõ hành vi là nếu tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thấy trước được hành vi bị pháp luật cấm và nếu vi phạm thì sẽ bị pháp luật xử lý. Thế nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; cụ thể: Tối ngày 16/9/2021, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) có khối lượng 0,119 gam nhằm mục đích để sử dụng, không có mục đích để bán thì bị lực lượng Công an huyện Phước Sơn bắt quả tang.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định chất ma túy (Heroine) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam; luận tội của kiểm sát viên; các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung và lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quang T tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Hành vi tàng trữ 0,119gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo Nguyễn Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine của bị cáo Nguyễn Quang T là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, chính từ việc sử dụng chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Xét thấy tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Phước Sơn diễn biến phức tạp, hành vi, tính chất phạm tội ngày một tinh vi. Hơn nữa bị cáo đã bị xét xử về tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, lẽ ra bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân để ăn năn hối cải, cải tạo, giáo dục trở thành công dân có ích cho xã hội. Thế nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị bắt qủa tang vào tối ngày 16/9/2021; Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Nguyễn Quang T chưa có tiền sự; tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Ngày 11/12/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 6 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 7 năm 6 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2018 nhưng đến ngày 01/10/2021 bị cáo mới nộp xong hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm nên chưa được xem là đã xóa án tích. Vì vậy, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nhân thân: Ngày 03/11/2011, bị Công an huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Quang T không có việc làm và thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 146/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, bên trong là toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định.

Đối với người đàn ông tên Phước không rõ lai lịch mà bị cáo Nguyễn Quang T khai đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn đã xác minh nhưng không có kết quả nên không đề cập.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án tuyên buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:

NGUYỄN QUANG T: 2 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/9/2021.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì số 146/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, bên trong là toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định (hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 17/11/2021).

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án tuyên buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo Nguyễn Quang T có quyền làm đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm.

Cỡ chữ