- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 25/ 2021/HSST Ngày 10/ 11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thìn
Bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Nguyệt Quế - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2021/HSST ngày 13/10 /2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST- HS ngày 28/10/2021 đối với:
Bị cáo: Đinh Văn D, sinh năm 1984; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Ph L 2, xã Th T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Định Văn H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1958; Vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1977; Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Không;
Nhân thân: - Năm 2006 Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
- Năm 2008 Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2021 đến ngày 21/6/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1977
Trú tại: thôn Ph L 2, xã Th T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt)
Người làm chứng: Anh Doãn Thế H, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Trú tại: Khu phố Nh S, Thị Trấn R Th, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 09/3/2021, tổ công tác thuộc Công an huyện Đông Sơn đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu phố Nhuệ Sâm, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa thì thấy một người nam giới đang điều khiển xe mô tô BKS 36B2-610.40 có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện ở tay trái của Đinh Văn D đang cầm 01 (một) gói giấy bên trong chứa các chất bột màu trắng nghi là ma túy, D khai nhận đây là gói giấy chứa ma túy nên tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời tiến hành thu giữ, niêm phong gói giấy chứa chất bột màu trắng, thu giữ chiếc xe mô tô BKS 36B2-610.40 và đưa Đinh Văn D về Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn để làm việc.
Ngày 09/3/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 32/CSĐT đối với chất nghi là ma túy đã thu được của Đinh Văn D. Tại Bản kết luận giám định số 1023/ PC09 ngày 11/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: gói giấy chứa chất bột màu trắng thu giữ của Đinh Văn D là ma túy, có khối lượng là 0,027 gam, loại Heroin.
Về nguồn gốc ma túy, Đinh Văn D khai nhận: Do nghiện hút ma tuý, nên ngày 09/3/2021, D đã từ nhà đi đến khu vực Bệnh viện đa khoa huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa gặp một người nam giới không quen biết, không rõ họ tên và địa chỉ để mua một gói ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng về sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được vì vậy không đủ cơ sơ để xử lý.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn đã tiến hành tạm giữ chiếc xe mô tô BKS 36B2-610.40 là phương tiện mà Dũng điều khiển đi mua ma túy về sử dụng, quá trình điều tra đã xác định đây là xe của vợ D là chị Phạm Thị L, sinh năm 1977 ở thôn Ph Th 2, xã Th T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, việc D lấy xe đi mua ma túy chị L không biết. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn đã trả lại chiếc xe trên cho chị L là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với vật chứng là 01 phong bì niêm phong chứa 0,014 gam ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSĐS ngày 12 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Đinh Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử. Căn cứ: Điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn D từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa 0,014 gam ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì
Lời sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên toà bị cáo khai nhận: Do sử dụng ma túy nên vào13 giờ ngày 09/3/2021 Đinh Văn D từ nhà đi xuống khu vực Bệnh viện đa khoa huyện Đông Sơn thuộc khu phố Nhuệ Sâm, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn mua của một người nam giới không rõ tên và địa chỉ một gói ma túy có khối lượng 0,027 gam, loại Heroin với số tiền 100.000 đồng để sử dụng, khi đi về thì bị tổ công tác Công an huyện Đông Sơn kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng tại khu phố Nhuệ Sâm, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; bị cáo cũng thừa nhận ngày 03/7/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt ngày 04/5/2019 chưa được xóa án tích.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đinh Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (Đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi tàng trữ chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước và gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú. Vì vậy khi quyết định hình phạt HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai tại phiên tòa, bị cáo là người sử dụng ma túy, là lao động tự do không có công việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Xe mô tô BKS 36B2-610.40 nhãn hiệu YAMAHA màu đỏ đen là phương tiện mà D điều khiển đi mua ma túy về sử dụng. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã xác định đây là xe của chị Phạm Thị L, sinh năm 1977 ở thôn Ph Th 2, xã Th T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Việc D lấy xe đi mua ma túy chị L không biết. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn đã trả lại chiếc xe trên cho chị L là hợp pháp, tại phiên tòa chị L không đề nghị gì vì vậy không xét.
01 (một) phong bì niêm phong do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín niêm phong có các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa bên trong chứa 0,014gam ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I Danh mục án phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn D 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/6/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín niêm phong có các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bình Nguyên, Trịnh Anh Sơn và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa bên trong chứa 0,014gam ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định.
Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2021 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa với Công an huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Về án phí: Bị cáo Đinh Văn D phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sư./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện Đông Sơn; - Công an huyện Đông Sơn; - Cơ quan Thi hành án DS Đông Sơn; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Cao Văn Tuấn |