- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng V Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng V Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐV TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS-ST Ngày: 24 - 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐV, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Minh Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Anh Tuấn và bà Hoàng Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐV, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐV, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Duy Khiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐV, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng V Q.
Sinh ngày 12/9/1990; tại quận H, thành phố P.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện ĐV, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Đặng Q V (đã chết) và bà Phạm T Th.
Vợ là Bùi T Đ - sinh năm 1994; Có 01 con, sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị tạm giữ ngày 11/5/2021, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐV, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi T Đ - sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện ĐV, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Ông Đặng Th S - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt); anh Phạm V T - Vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 11/5/2021, tại thôn Đ, xã X, huyện ĐV, tỉnh Quảng Ninh, Công an huyện ĐV bắt quả tang Đặng V Q có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Q 01 túi nilon, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, có gắn sim số 0366.782.911; 01 chìa khóa và 01 xe máy Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 14S1-020.39.
Tại Kết luận giám định số 844/KLGĐ ngày 14/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Đặng V Q gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,186 gam (không phẩy một tám sáu gam).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng V Q khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/5/2021, bị cáo dùng điện thoại gắn sim số 0366782911 gọi đến số 0369.029.818 của người có tên Th (không rõ lai lịch, địa chỉ) để hỏi mua ma túy đá về sử dụng. Do biết anh Th chơi trò chơi điện tử trên mạng xã hội giống bị cáo, nên bị cáo đã hỏi mua ma túy đá và trả bằng “250 gam” tiền điện tử, có giá trị tương đương 200.000 đồng tiền thật, anh Th đồng ý và hẹn bị cáo đến khu vực cây xăng cũ thuộc xã X, huyện ĐV để giao dịch. Bị cáo điều khiển xe mô tô BKS 14S1-020.39 của vợ bị cáo đến điểm hẹn gặp anh Th, bị cáo chuyển “250 gam” tiền điện tử vào tài khoản của anh Th như đã thỏa thuận từ trước, sau khi nhận được tiền điện tử, anh Th đưa cho bị cáo 01 túi ma túy, rồi đi đâu bị cáo không rõ. Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo cầm ở tay phải số ma túy trên điều khiển xe mô tô đến gần cuối đường Lò Vôi thuộc thôn Đ, xã X, huyện ĐV thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, lập biên bản thu giữ vật chứng.
Bị cáo Q còn khai nhận sử dụng ma túy “đá” từ năm 2018 đến nay. Q biết Th có ma túy bán là do một lần cùng Th uống bia, nên Q đã hỏi lấy số điện thoại của Th. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi T Đ khai: Sáng ngày 11/5/2021 chồng tôi (bị cáo Q) hỏi lấy xe máy Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 14S1-020.39 của tôi đi mua rau, sau đó anh Q điều khiển xe đi đâu tôi không biết. Đến nay cơ quan công an đã trả lại xe máy cho tôi, tôi không có yêu cầu gì.
Bản cáo trạng số 114/CT-VKSQN-P1 ngày 20/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Đặng V Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐV thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 114/CT-VKSQN-P1 ngày 20/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Đặng V Q từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 11/5/2021.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen.
Tịch thu, tiêu hủy 0,13 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 844/KLGĐ ngày 14/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và 01 sim Viettel.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến; phù hợp với kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra điện thoại di động và các chứng cứ tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 11/5/2021, tại thôn Đ, xã X, huyện ĐV, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Đặng V Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,186 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Đặng V Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tác hại đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo nghiện chất ma túy, hiểu rõ tác hại của chất ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật về việc tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không quyết tâm cai nghiện để từ bỏ ma túy mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội, nên cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt thể hiện không có tiền án, tiền sự. Do vậy, bị cáo Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo Điệp V Q theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 0,186 gam Methamphetamine, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh đã giám định hết một phần, còn lại 0,13 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 844/KLGĐ ngày 14/5/2021 là vật cấm tàng trữ, nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu đen, IMEL: 358173073775929 (điện thoại cũ, không kiểm tra chất lượng máy) là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 01 sim Viettel số 0366.782.911, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 14S1-020.39 và 01 chìa khóa là phương tiện đi lại của chị Bùi T Đ, chị Đ không biết bị cáo Q sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đ là phù hợp pháp luật.
Đối với người thanh niên tên Th bán ma tuý cho Quang, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không đề cập xử lý là có căn cứ.
[10 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng V Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng V Q 12 (Mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ 11/5/2021.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 0,13 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 844/KLGĐ ngày 14/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và 01 sim Viettel.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu đen, IMEL: 358173073775929 (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 30 ngày 15/9/2021 giữa Công an huyện ĐV và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐV).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng V Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 24/9/2021.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND huyện ĐV; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - CQCSĐT, CQTHAHS CA huyện ĐV; - CCTHADS huyện Vân Đồn, THAHS; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lưu Minh Đoàn |