- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS-ST Ngày: 23 - 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Văn Mến.
Bà Lê Thị Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thời Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn E, sinh năm 1984 tại huyện T, tỉnh V. Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh S; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M (sinh năm 1960, sống) và bà Phan Thị D (sinh năm 1965, sống); Anh, chị, em ruột: 03 người (Kể cả bị cáo, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất là bị cáo); Bị cáo có vợ tên Võ Thị Ngọc T, sinh năm 1992, có 01 con, sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 (Bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T ra Quyết định số 124/QĐ- UBND ngày 30/7/2020 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 30/10/2020, Ủy ban nhân dân xã T cấp Giấy chứng nhận số 1597/GCN-UBND chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn); Bị cáo bị tạm giữ ngày 27/5/2021 đến ngày 02/6/2021 tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Đoàn Văn G; Sinh năm: 1985; Nơi cư trú: Ấp N, thị trấn T, huyện T, tỉnh S (Vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị S; Sinh năm: 1996; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh S (Vắng mặt).
3. Bà Phan Thị D; Sinh năm: 1965; Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh S (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 27 tháng 5 năm 2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện T kết hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh S tiến hành tuần tra trên tuyến đường đal thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh S. Công an tiến hành kiểm tra chiếc xe mô tô biển số 83PT – 205.57 do Nguyễn Văn E điều khiển. Khi lực lượng Công an yêu cầu dừng xe, Nguyễn Văn E liền dùng tay phải quăng bỏ một vật được quấn băng keo màu đen xuống mé ruộng. Qua kiểm tra, Công an phát hiện vật được quấn băng keo màu đen mà E vừa quăng xuống ruộng có 03 (ba) gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn trong suốt. Nghi vấn là chất ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành thu giữ, niêm phong 03 (ba) gói nylon có chất tinh thể rắn trong suốt đồng thời lập biên bản tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) xe máy hiệu SYM ANGELA, màu trắng hồng, biển kiểm soát 83PT-205.57 (Đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu vàng, loại cảm ứng (Đã qua sử dụng); Tiền Việt Nam 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng); 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn Ếch; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 016079 do Huỳnh Văn Sư đứng tên; 01 (một) đoạn băng keo màu đen.
Tại kết luận giám định số 67/GĐMT-PC09, ngày 30 tháng 5 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh S kết luận:
Mẫu tinh thể rắn trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7532 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn E khai nhận: Vào ngày 27/5/2021, tại nhà của Đoàn Văn G, G rủ bị cáo sử dụng ma túy. Bị cáo đồng ý và dùng điện thoại gọi cho Nguyễn Thị S để hỏi mua ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Nguyễn Thị S cho bị cáo biết là S đang ở nhà của một người tên H ở ấp B, xã T, huyện T, tỉnh S. Sau đó, bị cáo điều khiển xe gắn máy hiệu SYM ANGELA, màu trắng hồng, biển số 83PT-205.57 chạy từ nhà của G đến gặp S để mua ma túy. Khi đến nhà của H, bị cáo đứng ngoài hàng rào đợi thì có một người thanh niên không rõ lai lịch, đeo khẩu trang đi ra nhận của bị cáo 300.000 đồng rồi chỉ cho bị cáo biết chỗ để ma túy (Ma túy để sẵn dưới gốc cây cách chỗ hai người đứng khoảng 02 m). Khi lấy ma túy xong, bị cáo điều khiển xe đi về. Trên đường về, bị cáo bị Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ 03 gói ma túy.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà có quen biết với bị cáo E. Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 27 tháng 5 năm 2021, bị cáo E có điện thoại cho bà hỏi bà ở đâu. Bà trả lời là đang ở nhà của H. Bà có kêu bị cáo đến nhà của H để bà đưa tiền nhờ bị cáo đi mua sữa cho con của bà. Sau đó, bị cáo đến nhà của H và bà đưa cho bị cáo 100.000 đồng rồi bị cáo chạy xe về. Bà không biết gì về hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo E và bà cũng không có bán ma túy cho bị cáo E.
Trong vụ án này, không có đủ cơ sở kết luận bà Nguyễn Thị S là người bán ma túy cho bị cáo. Còn người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không thể xác định được là ai. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra các đối tượng bán ma túy cho bị cáo. Nếu xác định được các đối tượng này sẽ bị xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSTĐ ngày 02/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề truy tố bị cáo Nguyễn Văn E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu vàng, loại cảm ứng (Đã qua sử dụng) của bị cáo Ếch vì đây là phương tiện mà bị cáo dùng để liên lạc với Soàn để mua ma túy;
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tang trữ, cấm lưu hành: 01 (một) gói niêm phong trong phong bì màu trắng có chứa mẫu vật là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng còn lại sau giám định là 0,6759 gam (Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh S niêm phong ghị vụ số 67/GĐMT-PC09 ngày 30/5/2021).
- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được: 01 (một) đoạn băng keo màu đen.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn E đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của ông Đoàn Văn G và bà Nguyễn Thị S. Xét thấy, ông G và bà S đã có có lời khai tại Cơ quan điều tra và xét sự vắng mặt của hai người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiến hành xét xử vụ án.
Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn E là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Methamphetamine là chất gây nghiện, gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau, ảnh hưởng đến kinh tế của cả xã hội. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn trong xã hội.
Xét về nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Với mục đích mua ma túy về để bị cáo với Đoàn Văn G sử dụng chung, vào ngày 27 tháng 5 năm 2021, bị cáo mua 03 (ba) gói ma túy đá với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không rõ lai lịch. Sau khi mua ma túy xong, bị cáo điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-205.5 đi về. Trên đường về, bị cáo bị Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ 03 (ba) gói ma túy có khối lượng 0,7532 gam (Khối lượng còn lại sau giám định là 0,6759 gam).
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trước khi phạm tội, bị cáo không có tiền án. Tuy nhiên, bị cáo có 01 (một) tiền sự, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 30/7/2020. Ngày 30/10/2020, bị cáo đã chấp hành xong Quyết định. Kể từ ngày bị cáo chấp hành xong Quyết định đến ngày bị cáo phạm tội chưa quá 02 năm nên bị cáo bị xác định có 01 tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có trình độ học vấn thấp. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại tòa hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Đối chiếu hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn E thực hiện vừa nêu trên với các quy định của Bộ luật hình sự thì bị cáo Nguyễn Văn E đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với các vật chứng là 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu vàng, loại cảm ứng (Đã qua sử dụng) là phương tiện mà bị cáo dùng để liên lạc với Soàn để mua ma túy. Tuy nhiên, qua điều tra không có cơ sở để xác định Soàn là người bán ma túy cho bị cáo mà người bán ma túy cho bị cáo là một người đàn ông không rõ lai lịch. Do đó, điện thoại di động là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên giao trả cho bị cáo.
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tang trữ, cấm lưu hành: 01 (một) gói niêm phong trong phong bì màu trắng có chứa mẫu vật là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng còn lại sau giám định là 0,6759 gam (Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh S niêm phong ghị vụ số 67/GĐMT-PC09 ngày 30/5/2021).
- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được: 01 (một) đoạn băng keo màu đen.
- Đối với 01 (một) xe máy hiệu SYM ANGELA, màu trắng hồng, biển kiểm soát 83PT-205.57 (Đã qua sử dụng) và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 016079 do Huỳnh Văn S đứng tên, Cơ quan điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị D và bà D không biết gì về hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho bà Phan Thị D vào ngày 09/6/2021 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét (Bút lục 67).
- Đối với tiền Việt Nam 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn E, Cơ quan điều tra xác định đây là tài sản của Nguyễn Văn E không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Văn E (Giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn E do mẹ ruột bị cáo là bà Phan Thị D nhận thay (Bút lục 67); Số tiền 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) bị cáo đã nhận vào ngày 03/8/2021 (Bút lục 125)) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn E 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 27/5/2021.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với các vật chứng là 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu vàng, loại cảm ứng (Đã qua sử dụng) là tài sản của Nguyễn Văn E không liên quan đến hành vi phạm tội nên giao trả cho Nguyễn Văn E.
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tang trữ, cấm lưu hành: 01 (một) gói niêm phong trong phong bì màu trắng có chứa mẫu vật là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng còn lại sau giám định là 0,6759 gam (Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh S niêm phong ghị vụ số 67/GĐMT-PC09 ngày 30/5/2021).
- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được: 01 (một) đoạn băng keo màu đen.
Các vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T quản lý.
- Đối với 01 (một) xe máy hiệu SYM ANGELA, màu trắng hồng, biển kiểm soát 83PT-205.57 (Đã qua sử dụng) và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 016079 do Huỳnh Văn S đứng tên, Cơ quan điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị D và bà D không biết gì về hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho bà Phan Thị D vào ngày 09/6/2021 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét (Bút lục 67).
- Đối với tiền Việt Nam 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn E, Cơ quan điều tra xác định đây là tài sản của Nguyễn Văn E không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Văn E (Giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn Ếch do mẹ ruột bị cáo là bà Phan Thị D nhận thay (Bút lục 67); Số tiền 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) bị cáo đã nhận vào ngày 03/8/2021 (Bút lục 125)) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn E, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phan Thị D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Đoàn Văn G và bà Nguyễn Thị S, thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - NLQ; - TANDT tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA); - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Trần Đề; - CAND huyện Trần Đề (CQCSĐT; Bộ phận HSNVCS; CQTHAHS; Nhà tạm giữ); - THADS huyện Trần Đề; - Lưu (HSVA; TA). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Thị Ngọc Trân |