- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Trần Minh Hiếu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Lữ Trần Minh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS-ST Ngày 15 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Huy
Bà Hà Thị Huấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, Tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trọng Sơn - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021; Đối với bị cáo:
Họ và tên: Lữ Trần Minh H, sinh ngày 28/5/1996 tại huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu 5, thị trấn S, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân Th và bà Lữ Thị H; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Ngày 09/10/2019 bị Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 17/6/2020 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2021 cho đến nay; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 11/8/2021, Lữ Trần Minh H, sinh ngày 25/8/1996; trú tại khu 5, thị trấn S, huyện Quan Sơn, tinh Thanh Hóa điều khiển xe mô tô BKS 36M1-9981 (Xe H mượn của cậu ruột là Lữ Văn H) đi từ nhà đến chợ Ngàm, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa chơi. Tại đây, H đã mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 25 (Hai mươi lăm) viên ma túy tổng hợp với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Số ma túy trên được đựng trong một túi nilon màu trắng, bên trong được gói bằng giấy bạc. Sau khi mua được ma túy, H cầm số ma túy trên bằng tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về thị trấn S, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đến khoảng 16 giờ ngày 11/8/2021 khi H đi đến địa phận bản X, xã Sơn H, huyện Quan Sơn thì gặp chốt kiểm soát dịch Covid. Do thấy tại chốt có lực lượng Công an nên H hoảng sợ và ném số ma túy mang theo xuống đất rồi bỏ trốn. Tại khu vực kiểm soát, tổ công tác phát hiện thu giữ toàn bộ số ma túy trên rồi báo cáo vụ việc và bàn giao toàn bộ số tang vật thu giữ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn xử lý theo thẩm quyền.
Sau khi bỏ trốn, đến 19 giờ cùng ngày Lữ Trần Minh H đã chủ động đến đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại bản kết luận giám định số: 2594/PC09 ngày 13/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có kết luận: 25 (hai năm) viên nén màu đỏ bề mặt mỗi viên in hình chữ “WY” của phong bì niêm phong mặt trước có ghi “Tang vật vô chủ” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,401g (Hai phẩy bốn không một gam) loại: Methamphetamine.
Như vậy, hành vi tàng trữ 2,401g (Hai phẩy bốn không một gam) loại: Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của Lữ Trần Minh H đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).
Đối với chiếc xe mô tô BKS 36M1-9981 mà Lữ Trần Minh H sử dụng để đi mua ma túy là xe của anh Lữ Văn H (Là cậu ruột của H). Quá trình điều tra xác định được chiếc xe trên không liên quan đến vụ án nên không xử lý.
Vật chứng của vụ án thu giữ của Lữ Trần Minh H gồm: Toàn bộ vỏ bao gói mở niên phong và 23 (hai ba) viên nén màu đỏ bề mặt mỗi viên in hình chữ “WY” có tổng khối lượng là 2,199g (hai phẩy một chín chín gam) là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niên phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Nguyễn Văn Thái và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSQS, ngày 04/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lữ Trần Minh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Đại diện VKSND huyện Quan Sơn tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Lữ Trần Minh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS tuyên phạt bị cáo Lữ Trần Minh H mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lữ Trần Minh H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, không có ý kiến gì đối với các văn bản tố tụng hình sự, cũng như các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tội danh: Lời khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với Kết luận giám định và các văn bản tố tụng hình sự khác, cũng như các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Lữ Trần Minh H là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy, H đã đi mua 2,401g (Hai phẩy bốn không một gam) ma túy loại Methamphetamine về cất giấu để sử dụng. Như vậy, Cáo trạng của VKSND huyện Quan Sơn truy tố bị cáo Lữ Trần Minh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, HĐXX thấy rằng: Hành vi của Lữ Trần Minh H là nguy hiểm cho xã hội, do ham muốn của bản thân nên đã mua ma túy về cất dấu để sử dụng. Hành vi của bị cáo gây hủy hoại cho sức khỏe, làm mất khả năng lao động, gây tác hại lâu dài cho giống nòi, gây tổn thương về tình cảm, sức khỏe, tiền bạc của bản thân và gia đình. Hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân và cũng là nguyên nhân làm phát sinh, gia tăng các loại tội phạm. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS):
* Lữ Trần Minh H có 01 tiền án: Ngày 09/10/2019 bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Sau khi phạm tội, bị cáo đã chủ động ra đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn; Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
* Tình tiết tăng nặng TNHS: Lữ Trần Minh H sau khi chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý. Do đó, Lữ Trần Minh H phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Về hình phạt: Từ những nhận xét, đánh giá trên, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật. Tuy nhiên, cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ TNHS nêu trên để quyết định mức hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo đạt lý, thấu tình, cũng như thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc đối tượng nghiện ma túy, là lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định. Xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành án. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Toàn bộ chất ma túy còn lại là mẫu vật sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
(Số vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) huyện Quan Sơn, tỉnhThanh Hóa).
. Về tình tiết liên quan: Đối với người đã bán ma túy cho Lữ Trần Minh H, do H mua lần đầu, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên chưa đủ căn cứ xử lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố: Bị cáo Lữ Trần Minh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Xử phạt: Bị cáo Lữ Trần Minh H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (12/8/2021).
* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niên phong và 23 (hai ba) viên nén màu đỏ bề mặt mỗi viên in hình chữ “WY” có tổng khối lượng là 2,199g (Hai phẩy một chín chín gam) là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niên phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Nguyễn Văn Thái và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.
Số vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục THADS huyện Quan Sơn, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2021.
* Về án phí: Buộc bị cáo Lữ Trần Minh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Quan Sơn; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn; - Cơ quan THAHS Công an huyện Quan Sơn; - Chi cục THADS huyện Quan Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |