- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS-ST Ngày 30-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Nguyễn Duy Hưng.
2. Nguyễn Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại hội trường xét xử Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm công khai thụ lý số: 23/2021/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn D (tên gọi khác: Không), sinh năm 1988 tại tỉnh Đ; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện Đ, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Lào; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn S, sinh năm: 1965 và bà Lò Thị T, (đã chết); vợ Lò Thị Tiến, sinh năm 1984 và có 01 con, sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ ngày 18/10/2021 đến ngày 27/10/2021, tạm giam từ ngày 27/10/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/10/2021, tổ công tác Công an huyện Điện Biên Đông đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực bản N, xã C, huyện Đ, tỉnh Đ, tổ công tác phát hiện Lò Văn D đi bộ từ hướng bản P, xã P xuống bản N, xã C, huyện Đ có dấu hiệu nghi vấn phạm tội, tổ công tác đã yêu cầu Lò Văn D dừng lại để kiểm tra, tổ công tác vận động, giải thích và yêu cầu Lò Văn D giao nộp các đồ vật có liên quan đến hoạt động phạm tội của bản thân thì tự giác giao nộp cho tổ công tác. Sau khi được vận động, giải thích Lò Văn D đã tự nguyện giao nộp 01 gói nilon màu xanh, đỏ, trắng chứa chất bột màu trắng nghi Heroine.
Tại bản N, tổ công tác đã mời người chứng kiến, đại diện chính quyền địa phương đến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đã đưa đối tượng cùng vật chứng thu giữ về trụ sở công an huyện Điện Biên Đông để điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan CSĐT Lò Văn D khai nhận: Số chất bột màu trắng bị thu giữ là Heroine, do Lò Văn D mua được từ một người đàn ông dân tộc Mông với giá 130.000 đồng (Một trăm ba mươi nghìn đồng). Mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy D cầm ở lòng bàn tay phải và đi bộ về nhà. Đến khoảng 13 giờ 40 phút ngày 18/10/2021, Tổ công tác công an huyện Điện Biên Đông phát hiện, bắt quả tang và thu giữ.
Vật chứng vụ án: thu giữ 01 gói nilon màu xanh, đỏ, trắng bên trong chứa chất bột màu trắng đục nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 19 giờ 00 phút ngày 18/10/2021 xác định số chất bột màu trắng đục dạng nén có tổng khối lượng là 0,29 gam. Trích 0,1 gam gửi giám định. Không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 1186/GĐ-PC09 ngày 25/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn D gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số: 86/CT-VKS-ĐBĐ ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn D cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy số vật chứng còn lại của vụ án sau khi giám định là 0,19 gam Heroine theo quy định pháp luật, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; bị cáo không phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì
với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Xét về hành vi của bị cáo Lò Văn D thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Cụ thể: Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 18/10/2021 Lò Văn D đi từ nhà tại bản T, xã C đi lên bản H, xã P để tìm ma túy về sử dụng. Khi đến bản Pó Sinh, xã Phì Nhừ, D hỏi đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không biết tên, tuổi, đị chỉ để đi vào bản H. Khi đến bản H, D tìm mua được ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine được gói trong ni lon màu xanh, đỏ, trắng với giá 130.000 đồng. Sau khi mua được đi bộ quay về nhà, đi được một đoạn D lấy tay cấu một ít sử dụng. Khi đến đầu dốc bản Nà Muông, xã Chiềng Sơ thì bị tổ công tác công an huyện Điện Biên Đông phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,29 gam.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, làm mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
“c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.
Về tính chất, mức độ phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng; xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước; gây mất trật tự trị an xã hội; bản thân bị cáo sinh ra và lớn lên tại vùng sâu, vùng xa, ở nhà lao động, sản xuất cùng gia đình nhưng không thoát khỏi cám dỗ dẫn đến nghiện ma túy nên tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy như ngày hôm nay. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ tác hại của chất ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm cho nên phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mình đã thực hiện.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục để bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nông nghiệp,hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, thuộc hộ nghèo. Do vậy, khó có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Gồm 0,29 gam Heroine, giám định hết 0,1 gam, còn lại 0,19 gam là chất thuộc Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác:
+ Đối với người đàn ông dân tộc Mông là người mà bị cáo Lò Văn D khai đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên Đông chưa điều tra làm rõ được, nên chưa đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX, không đặt vấn đề xem xét.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, đang cư trú tại xã C,
huyện Đ là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo. Tại phiên tòa, bị cáo xin miễn án phí. Vì vậy, HĐXX áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ
luật hình sự;
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều
106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12,
khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Tàng trữ
trái phép chất ma túy”:
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm
giữ (ngày 18/10/2021).
2. Về vật chứng vụ án:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine (đã trừ giám định).
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 16/11/2021 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.
3. Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn D.
Án xử công khai, kết thúc cùng ngày. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/11/2021)./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên Đông; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Nhà tạm giữ C.A huyện ĐBĐ; - Phòng NVHS CA huyện ĐBĐ; - CCTHADS huyện Điện Biên Đông; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Quang |