vanban.org

Bản án 25/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Bá N.

Về việc nuôi con: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Bá N có một con chung là Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết. Về việc chia tài sản: Chị Phạm Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Hiền - Vũ Bá Nhiễu"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Bá N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/HNGĐ-ST
Ngày 16-4-2021
V/v ly h«n, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Kim Liên

Ông Vũ Khắc Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 602/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 254/2021/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; ĐKHKTT: Thôn Hoành B, xã Lê H, huyện Thanh M, tỉnh Hải D; chỗ ở: Thôn Hòa N, xã Đặng C, huyện An D, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Bá Nh; nơi cư trú: Số 16/133 Hai Bà T, phường An B, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (đã bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tuyên bố mất tích theo quyết định số 01/2020/QĐST-VDS ngày 06/7/2020); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Chị và anh Vũ Bá N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường An Biên, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 16/10/2001.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm và anh N nghiện ma túy không quan tâm đến gia đình vợ con dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát đánh cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Đến ngày 21/01/2003 anh N bỏ nhà đi mà không cho biết đi đâu. Chị và gia đình đã tìm kiếm nhưng từ đó đến nay anh N cũng không liên lạc với chị và gia đình nên cũng không có tin tức gì, vì vậy chị đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tuyên bố mất tích đối với anh Vũ Bá N. Tại quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-VDS ngày 06/7/2020 Tòa án nhân dân quận Lê Chân tuyên bố anh Vũ Bá Nhiễu mất tích. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Bá N.

- Về con chung: Anh chị có một chung là Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/200X đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Vũ Bá N đã bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tuyên bố mất tích theo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-VDS ngày 06/7/2020 nên không có bản tự khai.

Tại phiên toà, chị Phạm Thị H giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Bá N.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Bá N. Về việc nuôi con: Anh chị có một chung là Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/200X đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Về việc chia tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Vũ Bá N cư trú trên địa bàn quận Lê Chân nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 08 tháng 3 năm 2021, Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2021/QĐXXST-HNGĐ và đã tống đạt hợp lệ quyết định trên cho anh Nh nhưng tại phiên toà ngày 30/3/2021 anh N vắng mặt lần thứ nhất, không có lý do. Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên toà số 254/2021/QĐST-HNGĐ trong đó ấn định phiên tòa được mở lại vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 16/4/2021. Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa cho anh N. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh N tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Thị H và anh Vũ Bá N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Anh chị đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường An Biên, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 16/10/2001. Vì vậy, hôn nhân giữa chị Hiền và anh Nhiễu là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm và anh Nhiễu nghiện ma túy không quan tâm đến gia đình vợ con dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát đánh cãi nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng nên ngày 21/01/2003 anh Nhiễu bỏ nhà đi đâu không rõ, không liên lạc, không có tin tức gì từ đó đến nay. Chị H và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả nên chị đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tuyên bố mất tích đối với anh N. Tại quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-VDS ngày 06/7/2020 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tuyên bố anh Vũ Bá Nh mất tích.

Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm và anh N nghiện ma túy không quan tâm đến gia đình vợ con dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát đánh cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Quan điểm của địa phương, gia đình xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được đề nghị Toà án giải quyết cho chị H được ly hôn anh N. Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh Nh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Vũ Bá N đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị H đối với anh Vũ Bá N.

+ Về việc nuôi con:

Chị Phạm Thị H và anh Vũ Bá N có một con chung là Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

+ Về việc chia tài sản:

Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Bá N.

- Về việc nuôi con: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Bá N có một con chung là Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về việc chia tài sản: Chị Phạm Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0014173 ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Phạm Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Vũ Bá N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ