- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Trần Thế N được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HNGĐ-ST Ngày: 06/5/2021 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hãn & Ông Nguyễn Văn Hiệt
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND huyện Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 169/2021/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 32/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/4/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Thế N, sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn Hiền Lương, xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn Kim Sơn, xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là anh Trần Thế N trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau từ năm 2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phù Lương. Trước khi kết hôn hai vợ chồng có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 03 tháng. Vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 02/2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là khi đó chị H mới sinh cháu thứ 3 nhưng lại muốn đi làm ngay vì không biết chăm sóc con, nhưng anh N không cho đi làm nên vợ chồng xảy ra to tiếng cãi nhau, trong lúc tức giận thì anh N có tát chị H mấy cái. Đến tháng 3/2020 thì mẹ chị H lên nhà xin đón chị H cùng con thứ 3 của anh chị về bên ngoại để chơi, nhưng sau đó chị H không quay về nữa. Mặc dù anh N và mẹ anh N đã lên nhà nói chuyện, khuyên bảo chị H về nhưng chị H không nghe. Khoảng tháng 4/2020 chị H đã làm đơn ly hôn anh N, nhưng sau đó lại rút đơn về. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau đến nay đã được 01 năm, không còn quan hệ vợ chồng, không liên lạc và không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh N nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, anh không còn tình cảm với chị H nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là Trần Thế Minh, sinh ngày 01/10/2013; Trần Thị Hoa, sinh ngày 01/8/2015 và Trần Thế Phúc, sinh ngày 11/02/2020. Hiện nay cháu Minh và cháu Hoa đang ở với anh N, còn cháu Phúc ở với chị H. Ly hôn anh N đề nghị tiếp tục được nuôi cháu Minh và cháu Hoa, còn để chị H nuôi cháu Phúc, vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh N đang làm ruộng và làm phụ hồ, thu nhập trung bình khoảng 5.000.000 đồng/tháng, nhưng do làm công việc tự do nên anh không cung cấp được giấy tờ chứng minh thu nhập. Anh N vẫn đang ở cùng nhà với bố mẹ anh, nên có đủ điều kiện để chăm sóc 02 con.
Về tài sản: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị H cũng xác nhận chị và anh N kết hôn với nhau từ năm 2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phù Lương. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống cùng bố mẹ anh N. Từ khi chị H đẻ cháu lớn năm 2013 thì hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn từ những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày và về chuyện kinh tế gia đình. Cứ mỗi lần như vậy thì anh N lại đánh đập chị H, nhưng chị vẫn cam chịu sống vì các con. Đến tháng 3/2020 sau khi chị H sinh cháu thứ ba thì vợ chồng anh chị tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do lúc đó chị H mới sinh con được hơn 01 tháng thì anh N bắt chị đi bắt ốc, nhưng do sức khỏe yếu nên chị không đi được nên bị anh N đánh. Đến tháng 4/2020 anh N tiếp tục bắt chị đi bắt ốc thì chị H xin đi làm thời vụ tại công ty. Nhưng chị H chỉ đi làm được 01 tuần thì anh N lại bắt nghỉ và bắt đi đòi tiền công, chị H chưa đòi được thì anh N lại đánh đập chị. Vì không chịu đựng được việc bị anh N thường xuyên đánh đập nữa nên chị H đã xin phép về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 04/2020, và vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị H cũng nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không còn tình cảm gì với anh N nữa, tuy nhiên giữa chị và anh N vẫn còn vướng mắc một số vấn đề về kinh tế gia đình chưa giải quyết xong nên chị chưa đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là Trần Thế Minh, sinh ngày 01/10/2013; Trần Thị Hoa, sinh ngày 01/8/2015 và Trần Thế Phúc, sinh ngày 11/02/2020. Hiện nay cháu Minh và cháu Hoa đang ở với anh N, còn cháu Phúc ở với chị H. Ly hôn chị H đề nghị được nuôi cháu Phúc và cháu Hoa, còn để anh N nuôi cháu Minh, vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị H đang làm công nhân tại Công ty Canon, thu nhập trung bình khoảng 7.000.000 đồng/tháng, và đang ở cùng nhà với mẹ đẻ chị.
Ngoài ra, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Thế Hẹ là bố của anh N và chị Nguyễn Thị Thái là chị gái của chị H đều xác nhận mâu thuẫn giữa anh N và chị H là có thật, mặc dù gia đình hai bên đã H giải nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn của hai vợ chồng.
Cháu Trần Thế Minh trình bày nguyện vọng được tiếp tục ở với anh N nếu như anh N, chị H ly hôn.
Tại phiên tòa, anh N vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Chị H chỉ đồng ý ly hôn nếu anh N trích trả cho chị tiền công sức từ khi kết hôn với nhau đến nay. Về vấn đề nuôi con chung chị H nhất trí để anh N nuôi cháu Minh và cháu Hoa, còn chị nuôi cháu Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N đối với chị H.
- Về con chung: Giao cháu cháu Phúc cho chị H nuôi dưỡng, còn giao cháu Minh, cháu Hoa cho anh N nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Anh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Thế N khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị H (trú tại thôn Kim Sơn, xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) và giải quyết vấn đề nuôi con chung, nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Quế Võ.
Về hôn nhân: Anh Trần Thế N và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau từ năm 2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phù Lương, huyện Quế Võ nên là hôn nhân hợp pháp. Anh N, chị H chung sống đến khoảng tháng 02/2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh N trình bày là do chị H mới sinh cháu thứ 3 nhưng lại muốn đi làm ngay vì không biết chăm sóc con, anh N không cho đi làm nên vợ chồng xảy ra to tiếng cãi nhau, trong lúc tức giận anh N có tát chị H mấy cái, thì chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng tháng 3/2020 đến nay không quay về nữa. Còn theo chị H mâu thuẫn của vợ chồng anh chị có từ khi chị mới sinh cháu thứ nhất do những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày và về chuyện kinh tế gia đình, cứ mỗi lần như vậy thì anh N lại đánh đập chị. Sau khi chị H mới sinh cháu thứ 3 thì vẫn bị anh N tiếp tục đánh đập, do không chịu đựng được nên chị H đã bỏ về nhà đẻ ở. Mặc dù gia đình hai bên đã H giải nhưng mâu thuẫn của hai vợ chồng không giải quyết được. Đến nay anh N, chị H đã ly thân được hơn 01 năm và đều xác nhận không còn tình cảm gì, không thể chung sống với nhau nữa. HĐXX thấy rằng, mâu thuẫn của anh N, chị H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N với chị H.
Về con chung: Anh N, chị H có 03 con chung là Trần Thế Minh, sinh ngày 01/10/2013; Trần Thị Hoa, sinh ngày 01/8/2015 và Trần Thế Phúc, sinh ngày 11/02/2020. Hiện nay cháu Minh và cháu Hoa đang ở với anh N, còn cháu Phúc ở với chị H. Anh N, chị H hiện đều có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con nên cần giao cho anh N được tiếp tục nuôi cháu Minh, cháu Hoa, còn giao cho chị H nuôi cháu Phúc theo như sự thống nhất của các đương sự tại phiên tòa. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản: Tại phiên tòa chị H yêu cầu anh N phải trích trả cho chị tiền công sức từ khi kết hôn với nhau đến nay, tuy nhiên chị không cung cấp được tài liệu gì chứng minh cho yêu cầu của mình. Mặt khác tại phiên tòa chị H mới đưa ra yêu cầu giải quyết vấn đề này nên đã vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, do đó Tòa án không xem xét trong vụ án này. Khi nào chị H có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Anh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 200, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Anh Trần Thế N được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
2. Về con chung: Anh N được nuôi cháu Trần Thế Minh, sinh ngày 01/10/2013 và cháu Trần Thị Hoa, sinh ngày 01/8/2015.
Chị H được nuôi cháu Trần Thế Phúc, sinh ngày 11/02/2020.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh N đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002626 ngày 25/3/2021 của Chi cục THADS huyện Quế Võ.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quế Võ; - Chi cục THADS huyện Quế Võ; - UBND xã Phù Lương, huyện Quế Võ; - Đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Minh Đức |