- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Thành Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2020/HS-ST Ngày: 15/5/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƢNG YÊN
Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Nguyên và bà Nguyễn Thị Nga.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Huy - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 15/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2020/TLST- HS ngày 16/4/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXST-HS ngày 04/5/2020 đối với:
Bị cáo: Vũ Văn Th, sinh năm 1992 tại Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn TC, xã ND, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Con ông Vũ Văn Thì, sinh năm 1966 và con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1967; Vợ: Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1993 (đã ly hôn); có 01 con (SN 2013); Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 14/2010/HSST ngày 27/4/2010 của TAND huyện Kim Động xử phạt Vũ Văn Th 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Bị tạm giữ từ ngày 21/9/2019, chuyển tạm giam ngày 27/9/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Bùi Văn T; sinh năm 1990.
Trú tại: Thôn CN, xã PNL, huyện KĐ, tỉnh HY.
+ Anh Nguyễn Văn C; sinh năm 1981.
Trú tại: Thôn CL, xã ĐL, huyện AT, tỉnh HY.
+ Bà Hoàng Thị T; sinh năm 1967.
Trú tại: Thôn TC, xã ND, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Người làm chứng:
+ Anh Lý Hoàng A; sinh năm 1994.
Trú tại: Thôn AX, xã TTh, huyện KĐ, tỉnh HY.
- Người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Tiến M; sinh năm 1960.
Trú tại: Thôn CN, xã PNL, huyện KĐ, tỉnh HY.
(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
To các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 20/9/2019, tại địa phận thôn Phú Cốc, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Công an huyện Kim Động đã phát hiện quả tang đối tượng Nguyễn Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại ma túy đá chứa trong túi nilon nhỏ có miệng tự cài, được C cất giấu bên trong ốp nhựa điện thoại Samsung galaxy J6 của C mang trong người. Vật chứng thu giữ, gồm: một gói nilon màu trắng kích thước 2x1,5cm, có nắp viền cài màu xanh, bên trong chứa chất kết tinh màu trắng dạng cục (niêm phong ghi M1). Tổ công tác lập biên bản kiểm tra nhật ký liên lạc trên điện thoại Samsung galaxy J6 của C và quản lý 01 sim trên điên thoại. C khai nhận đó là ma túy đá do C vừa mua của Vũ Văn Th, sinh năm 1992 ở thôn TC, xã ND, huyện Kim Động với giá 300.000đồng nhằm mục đích sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT - Công an huyện đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với Vũ Văn Th ở thôn TC, xã ND, huyện Kim Động, thu giữ các vật chứng gồm: một gói nilon có chứa 20 gói nhỏ đều chứa chất kết tinh màu trắng (niêm phong ghi T1) do Th đã tự lấy từ trong một hộp giấy các tông để ở tầng trên ngăn bên trái của tủ gỗ trong phòng ngủ của Th giao nộp. Th khai nhận đó là ma túy đá do Th mua về để tàng trữ nhằm mục đích vừa để sử dụng, vừa để bán lại cho đối tượng khác. Ngoài ra Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Động còn lập biên bản quản lý 01 xe mô tô hiệu Hon da Wave không mang biển số và 01 điện thoại di động của Th.
Tại bản kết luận giám định số 567/PC09 ngày 24/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1 thu của Nguyễn Văn C, có khối lượng là 0,022g là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu T1 thu của Vũ Văn Th, có khối lượng là 3,278g là ma túy, loại Methamphetamine.
Kết quả điều tra, Vũ Văn Th đã khai nhận về nguồn gốc số ma túy là do ngày 10/9/2019, Th đi xe taxi đi đến khu vực bến xe ở Th phố Hải Dương. Tại đây Th xuống xe rồi một mình đi bộ đi tìm gặp một thanh niên lạ không biết tên, tuổi, địa chỉ nhìn giống người nghiện ma túy, Th hỏi người này: “Có hàng không”; ý hỏi có ma túy đá bán không, thì người này hỏi lại “Mày mua bao nhiêu?”. Th nghe vậy bảo bán cho em 3.000.000 đồng, người thanh niên này bảo Th chờ một lúc sau quay lại. Th đưa cho người này 3.000.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa cho Th 01 Ti nilon màu trắng bên trong chứa ma túy đá. Th cầm số ma túy mua được cất vào trong người rồi lại bắt taxi về nhà, sau đó Th tự chia ra nhiều gói nhỏ cất vào trong hộp bìa các tông để trong tủ gỗ ở phòng ngủ mục đích để sử dụng và ai cần mua sẽ bán.
Ngày 19/9/2019, Bùi Quang T nhắn tin từ số điện thoại 082910899 của mình đến số điện thoại 0965176256 của Th để hỏi Th có ma túy đá thì bán cho T 300.000 đồng. Th đọc tin nhắn xong không trả lời mà tự tin xóa nhắn đó đi. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/0/2019 C đã gọi điện từ số điện thoại 0366790241 của C đến số điện thoại của Th nhưng Th không nghe máy. Một lúc sau Th gọi lại cho C hỏi “có việc gì đấy”, thì C nói với Th bán cho C 300.000 đồng ma túy, Th đồng ý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, C gọi điện cho Th nói đang đợi Th ở gần miếu TC, thì Th đã lấy một gói nilon ma túy trong phòng ngủ rồi điều khiển xe mô tô Honda Wave không biển số ra gặp và bán cho C 01 gói ma túy, với giá 300.000 đồng. C cất gói ma túy vào sau ốp điện thoại Samsung galaxy J6 rồi cất vào túi quần bên trái đang mặc đi về phía thôn Phú Cốc, xã Phạm Ngũ Lão tìm chỗ sử dụng thì bị Công an huyện Kim Động phát hiện bắt quả tang.
Trước đó, buổi chiều 20/9/2019 Th gọi điện từ số điện thoại của mình đến số điện thoại của T và hẹn T ở đầu ngõ để đưa ma túy. Th lấy một gói ma túy trong phòng ngủ của mình rồi lấy xe môt tô Honda Wave của mẹ đẻ là bà Hoàng Thị T (xe đã bị Th tháo biển số) đi từ nhà đến chỗ hẹn với T. Khi Th đi đến khu vực ngã ba thôn Trương Xá, xã Toàn Thắng thì gặp Lý Hoàng A đang đi bộ nên rủ Hoàng A ngồi lên xe đi cùng xuống thị trấn Lương Bằng để làm lại thẻ ATM. Khi Th đi đến đầu ngõ nhà T ở thôn Cốc Ngang, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động thì gặp T đang đợi sẵn ở đó. Th đi chậm xe lại gần, dùng xe lấy trong túi quần ra gói ma túy rồi đưa cho T. T cầm gói ma túy và hẹn Th tối trả tiền cho Th sau. Sau đó Th cùng với Hoàng A đi xuống thị trấn Lương Bằng làm thẻ ATM tại ngân hàng rồi lại chở Hoàng Anh về nhà. Hoàng Anh không biết việc Th đã bán ma túy cho T.
Quá trình điều tra, Vũ Văn Th đã Th khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị can phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Th ngày 10/9/2019 tại TP.Hải Dương, do Th khai là đối tượng lạ mặt và không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn C đã tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng trái phép với khối lượng 0,022g, bản thân C chưa có tiền án, tiền sự về các tội liên quan đến ma túy; đối với Bùi Quang T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, Công an huyện Kim Động đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C và T To quy định của pháp luật.
Về vật chứng, đồ vật, phương tiện có liên quan trong vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave do Th sử dụng để đi bán ma túy cho T và C. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên đăng ký tên chị Nguyễn Thị Hằng ở thôn Mát, xã Nhân La, huyện Kim Động, và được cấp biển số 89D1-099.34, nhưng chị Hằng đã bán cho lại bà Hoàng Thị T vào năm 2017. Th mượn xe của bà T để đi lại nhưng đã tự ý sử dụng vào việc phạm tội. Bà T không biết việc này. Do vậy, ngày 19/3/2020 Cơ quan CSĐT -Công an huyện Kim Động đã trả lại chiếc xe trên cho gia đình bà T.
Quá trình điều tra đã quản lý 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ma túy sau giám định; 01 phong bì kí hiệu D1 niêm phong chứa điện thoại và sim quản lý của Vũ Văn Th; 01 phong bì niêm phong chứa sim điện thoại của Nguyễn Văn C.
Cáo trạng số 28/CT-VKSKĐ ngày 16/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Vũ Văn Th về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Văn Th thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động trình bày luận tội giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Vũ Văn Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị HĐXX: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn Th từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/9/2019; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện Kim Động và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục To quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai của Nguyễn Văn C, Bùi Quang T là những người trực tiếp mua ma túy của Th, lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, Bản kết luận giám định số 567/PC09 ngày 24/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên...Như vậy, HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận:
Do bản thân nghiện ma túy nên Vũ Văn Th đã mua ma túy của một người không biết tên, tuổi, địa chỉ ở bến xe thành phố Hải Dương về chia thành các gói nhỏ nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho các đối tượng khác thu lợi. Khoảng 17 giờ ngày 20/9/2019 tại thôn TC, xã ND, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Th đã bán trái phép cho Nguyễn Văn C 01 gói ma túy đá (Methamphetamine) lấy 300.000đồng. Trước đó vào khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày 20/9/2019, tại khu vực thôn Cốc Ngang, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, Th đã bán trái phép cho Bùi Quang T 01 gói ma túy đá, với giá 300.000đồng. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Do bị cáo đã bán ma túy cho hai người khác nhau là Nguyễn Văn C và Bùi Quang T nên bị cáo phải chịu tình tiết định định khung hình phạt là phạm tội nhiều lần theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của nhà nước đối với các chất ma túy và chất gây nghiện. Tội phạm ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy nên ý thức rõ tác hại của ma túy đối với thể lực và trí lực của con người nhưng vì mục đích thu lợi bất chính nên bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật, thực hiện việc phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở Th người có hữu ích cho gia đình và xã hội.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS).
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng ren luyện cho bản thân mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội với tính chất nguy hiểm hơn lần trước.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với bị cáo, HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số ma túy hoàn lại sau giám định 3,162 gam Methamphetamine được đựng trong 01 phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hưng Yên là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave biển số 89D1-099.34, quá trình điều tra và tại phiên tòa có căn cứ xác định là tài sản của bà T. Bà T không biết việc bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, ngày 19/3/2020 Cơ quan CSĐT -Công an huyện Kim Động đã trả lại chiếc xe trên cho gia đình bà T là có căn cứ.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong có thẻ sim cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Th, quá trình điều tra và tại phiên tòa có căn cứ xác định là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu cho phát mại sung công quỹ nhà nước.
Đối với chiếc sim điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn C không phải là vật chứng của vụ án nên trả lại cho C.
. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Th ngày 10/9/2019 tại thành phố Hải Dương, do Th khai là đối tượng lạ mặt và không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn C đã tàng trữ ma Túy nhằm mục đích sử dụng trái phép với khối lượng 0,022g, bản thân C chưa có tiền án, tiền sự về các tội liên quan đến ma túy; đối với Bùi Quang T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma Túy. Do vậy, Công an huyện Kim Động đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C và T theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí To Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Th 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/9/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu cho tiêu hủy 3,162 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong.
-Tịch thu cho phát mại sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen bên trong có thẻ sim đựng trong phong bì niêm phong ký kiện D1 thu giữ của Vũ Văn Th.
-Trả lại cho anh Nguyễn Văn C 01 sim điện thoại đựng trong phong bì niêm phong.
(Tình trạng, đặc điểm chi tiết vật chứng nêu trên được thể hiện To Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 20/04/2020 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Động).
4. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn Th phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo đối với phần bản án có liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết To quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA); - VKSND huyện; - Cơ quan điều tra và bộ phận HSNV Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng |