- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc S - phạm tội "Hủy hoại tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc S và sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2020/HSPT Ngày: 19-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiên.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
Ông Nguyễn Gia Lương.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Chí Dũng – Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 19/02/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 272/TLPT-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Quốc S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2019/HSST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quốc S, sinh năm 1971; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên bố: Nguyễn Ngọc O, sinh năm 1932 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Dương Thị P, sinh năm 1933 (Đã chết); Vợ: Lương Thị D, sinh năm 1973 (đã ly hôn năm 2017); Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại không liên quan đến kháng cáo, nên Tòa án không triệu tập
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/11/2018, khi S đang xem ti vi tại phòng khách tầng một của gia đình thì bà D cùng với chị Nguyễn Bảo T, sinh năm 1995 (là con gái của anh S và chị D) và anh Nguyễn Văn S2, sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã Liên S2, huyện T (anh S2 là bạn của T) đi chơi về. Thấy vậy, S đi lên phòng ngủ ở tầng hai phía sau, chị D cũng đi lên tầng hai phòng ngủ ở phía trước, còn chị T, anh S2 ngồi ngoài cửa nhà chơi cùng với chị Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1996 ở cùng thôn T, xã H, huyện T. Sau đó, chị D sang phòng ngủ của S gọi cửa để lấy đồ. S dậy bật điện, mở cửa để chị D vào phòng rồi S đứng cạnh phía sau cánh cửa, tay phải cầm 01 thanh chốt cửa bằng kim loại, hình trụ dài 20 cm, một đầu có đường kính 2,3 cm, một đầu có đường kính 1,4 cm, trên thân có hai lỗ khoan thủng hình tròn đường kính 0,7cm để chờ chị D lấy đồ ra ngoài thì đóng cửa. Trong khi chị D tìm lấy đồ, giữa S và chị D xảy ra to tiếng, xô xát với nhau, chị D lấy chiếc chăn mà S vẫn sử dụng ném ra ngoài cầu thang nên S bực tức du đẩy chị D ra ngoài nhưng chị D lại xông vào cào cấu S và hô hoán, S tay phải cầm chiếc chốt cửa vung từ trên xuống dưới về phía chị D, chị D giơ tay lên đỡ thì bị chiếc chốt cửa đập trúng vào ngón tay 3 - 4 bàn tay trái. Thấy bố, mẹ to tiếng, xô xát với nhau, chị T và anh S2 từ tầng một chạy lên can ngăn, du đẩy làm S ngã ra nền nhà rồi chị T đã lao vào giằng chiếc chốt cửa với S thì tay phải S cầm chiếc chốt cửa đánh từ trên xuống dưới trúng vào đầu bên trái làm đầu chị T bị chảy máu. Thấy chị T bị S đánh, anh S2 vào can ngăn du đẩy S và cũng bị S dùng tay phải cầm chiếc chốt cửa đánh từ trên xuống dưới trúng vào trán anh S2. Lúc này, chị D đã lấy điện thoại di động Oppo, loại F7 màu đen của mình đưa cho S2 để S2 quay lại hình ảnh thì S đứng dậy dùng tay gạt điện thoại rơi xuống nền nhà, tay phải dùng chốt cửa đập 02 đến 03 cái làm hỏng điện thoại của chị D. Thấy vậy, chị T cũng lấy điện thoại di động Iphone 7Plus, màu đen của mình để đưa cho chị D điện thoại gọi báo Công an đến giải quyết thì lại bị S dùng tay gạt điện thoại rơi xuống nền nhà rồi tay phải dùng chốt cửa đập 03 đến 04 cái làm hư hỏng điện thoại của T. Sau đó chị D, cháu T và anh S2 đi xuống tầng 1 và trình báo lực lượng công an đến giải quyết. Chị D được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện T khám và điều trị từ ngày 25/11/2018 đến ngày 29/11/2018 thì ra viện; chị T và anh S2 đến Bệnh viện đa khoa quốc tế Hà Nội - Bắc Giang điều trị từ ngày 25/11/2018 đến ngày 27/11/2018 thì ra viện.
Đến ngày 06/12/2019, Cơ quan điều tra tạm giữ của chị Lương Thị D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu đen số IDBCG-E3092A đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F7, màu đen đã qua sử dụng, bị hư hỏng và 06 bản ảnh chụp thương tích liên quan đến vụ xô sát ngày 24/11/2018.
Cơ quan điều tra Công an huyện T quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với chị D và cháu T. Kết quả chị D bị tổn thương 01% và cháu T bị tổn thương là 04%. Ngày 26/3/2019 Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với của Nguyễn Quốc S về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự để tiến hành điều tra. Tuy nhiên trong quá trình điều tra ngày 11/6/2019, chị Lương Thị D và cháu Nguyễn Bảo T đã rút đơn yêu cầu khởi tố và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can Nguyễn Quốc S nên ngày 26/7/2019 Cơ quan điều tra Công an huyện T căn cứ khoản 2 Điều 155, điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự và Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Nguyễn Quốc S.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự số 16/KL-ĐGTS ngày 06/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- Giá trị phần tài sản bị hủy hoại của 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại F7, màu đen đã qua sử dụng có giá 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng chẵn).
- Giá trị phần tài sản bị hủy hoại của 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen đã qua sử dụng có giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng chẵn).
Tổng giá trị tài sản: 13.800.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm nghìn đồng chẵn).
Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2019/HSST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc S phạm tội “hủy hoại tài sản”
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 178; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng, phần án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định.
Ngày 02/10/2019 bị cáo Nguyễn Quốc S kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và cho bị cáo được án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Quốc S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Phần tranh luận: bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thì thấy:
Ngày 24/11/2018 do mâu thuẫn xô sát đánh nhau nên Nguyễn Quốc S đã 02 lần thực hiện hành vi sử dụng 01 thanh chốt cửa bằng kim loại, hình trụ dài 20 cm, một đầu có đường kính 2,3 cm, một đầu có đường kính 1,4 cm, trên thân có hai lỗ khoan thủng hình tròn đường kính 0,7 cm đập 02 đến 03 cái vào 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại F7, màu đen đã qua sử dụng có giá trị tài sản bị hủy hoại là 3.800.000 đồng của bà Lương Thị D và đập 03 đến 04 cái vào 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen số model: A1784FCC, ID: BCG-E3092A, IC: 579C-E3092A, đã qua sử dụng giá trị bị hủy hoại là 10.000.000 đồng của chị Nguyễn Bảo T. Tổng giá trị tài sản bị hủy hoại là 13.800.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2019/HSST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo Nguyễn Quốc S về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đối với hành vi hủy hoai tài sản của bị cáo đối với 02 chiếc điện thoại của 02 bị hại khác nhau, trong cùng một thời gian kế tiếp nhau trong cùng một địa điểm tại gia đình bị cáo. Đây là hành vi hủy hoại tài sản của nhiều người trong cùng một thời điểm, nên hành vi phạm tội này được chỉ coi là hành vi phạm tội liên tục chứ không phải phạm tội nhiều lần như Bản án sơ thẩm đã nhận định và áp dụng đối với bị cáo. Vì vậy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự như cấp sơ thẩm đã áp dụng và tuyên phạt bị cáo. Do đó cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo trình bầy và xuất trình bản sao thể hiện bố đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Ngọc O có tham gia kháng chiến chống Mỹ và được nhà nước trặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm cần chấp nhận cho bị cáo được hưởng mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng. Mặt khác, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đánh giá nêu trên, có nơi ở rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển hình phạt tù giam sang cho bị cáo được hưởng án treo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
[1]. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc S và sửa Bản án sơ thẩm.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc S phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc S 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Công an tỉnh Bắc Giang; - STP tỉnh Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Văn Nhiên |