vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Bùi Huy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

Xử phạt: Bùi Huy T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giam 19/4/2020 (ngày mười chín tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Huy T (Th), sinh năm 1965 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Bùi Huy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày: 10/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phạm Thế Phương;

- Bà Nguyễn Thị Lệ.

Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Hữu Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Thanh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2020/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Huy T (Th), sinh năm 1965; Nơi sinh: Phú Tân – An Giang; Nơi cư trú (ĐKHKTT): khóm L, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Huy R, sinh năm 1918 và bà Nguyễn Thị Ngh, sinh năm 1921 (chết); Vợ La Thị Kim I, sinh năm 1966; Có 02 (hai) người con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1993.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/4/2020 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà La Thị Kim I (Thúy), sinh năm 1966; Địa chỉ: Khóm L, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn T1, vắng mặt;

- Ông Lâm Văn T2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 ngày 19/4/2020, T lấy túi vải màu đen, hiệu Everlast, bên trong có bọc ma túy đá, để vào cốp xe môtô, hiệu Spacy, biển kiểm soát 67H1-087.78 rồi điều khiển xe môtô trên từ nhà thuộc khóm Long Thạnh A, phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu đi đến xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, để đưa “bố thắng” (dụng cụ để phanh xe cơ giới) cho thợ để sửa xe cần cẩu tên Được (không rõ họ tên, địa chỉ). Đến khoảng 12 giờ 45 phút, T điều khiển xe đến khu vực ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, gặp tổ tuần tra của Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, nên tổ tuần tra yêu cầu T dừng xe lại để kiểm tra, phát hiện trong túi vải mà T để trong cốp xe, có gói thuốc lá hiệu 555, bên trong có một bọc nilon màu trắng, bên trong bọc nilon có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy đá) và bộ dụng cụ dùng sử dụng ma túy đá, nên tổ tuần tra của Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, đã mời T về trụ sở và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

01 vỏ bao thuốc lá màu xanh - trắng, hiệu 555, bên trong có bọc nilon màu trắng trong suốt, có rảnh kẹp viền đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi vấn là ma túy đá); 01 hộp nhựa màu đen, bên ngoài được quấn băng keo màu đen (Đã qua sử dụng); 01 ống thủy tinh (Đã qua sử dụng); 01 ống hút nhựa màu xanh (Đã qua sử dụng); 02 ống hút nhựa màu trắng, cắt nhọn một đầu; 01 ống kim loại màu trắng (Đã qua sử dụng); 01 ống mực nhựa màu trắng - đen, bịt kín một đầu (Đã qua sử dụng); 02 ống hút nhựa màu xanh, được cắt dọc; 01 túi vải màu đen, dây vàng, hiệu Everlast (Đã qua sử dụng); 01 bật lửa màu xanh (Đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng (Đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, màu bạc, bên ngoài ốp vỏ màu đen (Đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng - bạc, bên ngoài ốp vỏ viền đen - trắng (Đã qua sử dụng); 01 xe môtô, hiệu Spacy, màu trắng - đen, biển kiểm soát 67H1- 087.78 (Đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số 67H1-087.78 tên La Thị Kim I, số máy QMI99115031, số khung JOX006862; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Huy T; Tiền Việt Nam: 14.800.000 đồng.

Căn cứ Kết luận giám định số 85/KLGT-PC09 ngày 20/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,6099 gam.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án khai:

Bà La Thị Kim I khai, bà I là vợ của ông T, bà I là chủ sở hữu chiếc xe môtô, hiệu Spacy, màu trắng - đen, biển kiểm soát 67H1-087.78, việc ông T để chất ma túy vào cốp xe nêu trên bà không biết, bà I có yêu cầu nhận lại xe và giấy chứng nhận đăng ký xe.

Những người làm chứng trong vụ án khai trong quá trình điều tra:

Ông Nguyễn Văn T1 và ông Lâm Văn T2 đồng khai, vào khoảng 12 giờ 50 phút ngày 19/4/2020, ông T1 và ông T2 được Bộ đội Biên phòng, Công an mời lại chứng kiến việc kiểm tra và phát hiện trong cốp xe hiệu Spacy, màu trắng - đen, biển kiểm soát 67H1-087.78 do ông T điều khiển có gói thuốc lá hiệu 555, bên trong có một bọc nilon màu trắng, bên trong có chất tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy đá) và bộ dụng cụ dùng sử dụng ma túy đá.

Ngày 24/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, khởi tố T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Cáo trạng số 29/CT-VKSTC ngày 18/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố Bùi Huy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo T khai nhận, nguồn gốc số ma túy mà bị cáo bị bắt quả tang ngày 19/4/2020 là do bị cáo T xin của người bạn tên Tr trong lúc bị cáo uống bia và hát karaoke với Q, Tr và 03 người bạn của Q (không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) để sử dụng, Tr đồng ý. Đến khoảng 12 giờ 45 phút, khi bị cáo điều khiển xe môtô, hiệu Spacy, màu trắng - đen, biển kiểm soát 67H1-087.78 đến khi vực ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương yêu cầu bị cáo dừng xe lại để kiểm tra, phát hiện trong túi vải mà bị cáo để trong cốp xe, có gói thuốc lá hiệu 555, bên trong có một bọc nilon màu trắng, bên trong có chất tinh thể màu trắng (là ma túy đá) và bộ dụng cụ dùng sử dụng ma túy đá, nên tổ tuần tra của Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo, về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bà La Thị Kim I giữ nguyên lời khai ở giai đoạn điều tra, yêu cầu nhận lại chiếc xe môtô, hiệu Spacy, màu trắng - đen, biển kiểm soát 67H1-087.78 và giấy chứng nhận xe mô tô.

Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức án nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc thành phần lao động, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Huy T từ 01 (Một) năm đến 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo 10.000.000 đồng.

Đối với người tên Tr, đã cho T ma túy, do không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, chưa làm việc được. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Riêng người tên Q và những người bạn của Q, đã sử dụng trái phép chất ma túy do không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, chưa làm việc được. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47; 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

+ Tich thu, tiêu hủy: T1 bộ ma túy đã hoàn lại sau giám định; 01 hộp nhựa màu đen, bên ngoài được quấn băng keo màu đen; 01 ống thủy tinh; 01 ống hút nhựa màu xanh; 02 ống hút nhựa màu trắng, cắt nhọn một đầu. 01 ống kim loại màu trắng; 01 ống mực nhựa màu trắng - đen, bịt kín một đầu; 02 ống hút nhựa màu xanh, được cắt dọc; 01 túi vải màu đen, dây vàng, hiệu Everlast, 01 bật lửa màu xanh, do những vật chứng này không còn giá trị sử dụng.

+ Giao trả: Bùi Huy T 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng; 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, màu bạc, bên ngoài ốp vỏ màu đen; 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng - bạc, bên ngoài ốp vỏ viền đen - trắng; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Huy T; Tiền Việt Nam: 14.800.000 đồng (Tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo cho việc thi hành án); Bà La Thị Kim I- 01 xe môtô, hiệu Spacy, màu trắng - đen, biển kiểm soát 67H1-087.78 (Đã qua sử dụng) và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số 67H1-087.78 tên La Thị Kim I, số máy QMI99115031, số khung JOX006862, do những vật chứng này không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo T không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, T1 diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng,

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Bùi Huy T bị Cơ quan điều tra - Công an thị xã Tân Châu khởi tố về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị bắt quả tang tại khu vực ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Các người làm chứng Nguyễn Văn T1 và Lâm Văn T2 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung,

Hành vi phạm tội: Bị cáo T khai nhận, ngày 09/4/2020, bị cáo T đi từ nhà đến thành phố Hồ Chí Minh để mua “bố thắng” sửa xe cần cẩu. Đến đây, bị cáo T cùng những người bạn tên Q,Tr và 03 người bạn của Q (không biết họ tên và địa chỉ cụ thể) đi uống bia và hát karaoke. Trong lúc hát karaoke, Tr lấy 01 bọc ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy đá ra, để cả nhóm cùng sử dụng. Sau đó, cả nhóm đi về. Lúc này, bị cáo T thấy bọc ma túy chưa sử dụng hết, nên xin bọc ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá đem về nhà sử dụng, Tr đồng ý. Bị cáo T lấy bọc ma túy đá, để trong gói thuốc lá hiệu 555, rồi để dụng cụ sử dụng ma túy đá và gói thuốc lá trên, vào túi vải màu đen, hiệu Everlast, rồi đi về thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Đến khoảng 12 giờ ngày 19/4/2020, bị cáo T lấy túi vải màu đen, hiệu Everlast, bên trong có bọc ma túy đá, để vào cốp xe môtô, hiệu Spacy, biển kiểm soát 67H1-087.78 rồi điều khiển xe môtô trên từ nhà đi đến xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, để đưa “bố thắng” (dụng cụ để phanh xe cơ giới) cho thợ để sửa xe cần cẩu tên Được (không rõ họ tên, địa chỉ). Đến khoảng 12 giờ 45 phút, bị cáo T điều khiển xe đến khu vực ấp 4, xã

Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, gặp tổ tuần tra của Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, nên tổ tuần tra yêu cầu T dừng xe lại để kiểm tra, phát hiện trong túi vải mà bị cáo T để trong cốp xe, có gói thuốc lá hiệu 555, bên trong có một bọc nilon màu trắng và có chất tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy đá) và bộ dụng cụ dùng sử dụng ma túy đá, nên tổ tuần tra của Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, đã mời T về trụ sở và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, về hành vi “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19/4/2020 do Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương lập, Kết luận giám định số 85/KLGT-PC09 ngày 20/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang với lượng ma túy 0,6099 gam, loại Methamphetamine; lời khai của người liên quan, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Đủ căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy mà bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nên cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019.

Ma túy là chất gây nghiện, là mầm móng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính nguy hiểm cao cho xã hội, cần xử lý nghiêm cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với lượng ma túy đã thu giữ (vật cấm lưu hành) cùng các vật chứng là công cụ bị cáo dùng để phân lẻ ma túy sử dụng, không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy:

01 (một) hộp niêm phong ghi vụ số 85/KLGT-PC09(MT), ngày 20/4/2020 có chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Chau Đa Rép và dấu mộc tròn màu đỏ của Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, Bộ Đội Biên phòng tỉnh An Giang; 01 (một) hộp nhựa màu đen, bên ngoài được quấn băng keo màu đen; 01(một) ống thủy tinh (co thủy tinh); 01 (một) ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) ống kim loại màu trắng; 01 (một) ống mực nhựa màu trắng - đen, bịt kín một đầu; 01 (một) túi vải màu đen, dây vàng, hiệu Everlast; 01 (một) bật lửa màu xanh; 02 (hai) ống hút nhựa màu xanh, được cắt dọc; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, cắt nhọn một đầu; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, khứa một đầu.

- Đối với các điện thoại di động: 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, màu bạc, bên ngoài ốp vỏ màu đen; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng - bạc, bên ngoài ốp vỏ viền đen - trắng (đã qua sử dụng) của bị cáo T; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Huy T không liên quan đến việc phạm tội. Xét, giao trả cho bị cáo T.

- Tiền Việt Nam 14.800.000 (mười bốn triệu tám trăm ngàn) đồng của bị cáo, không có chứng cứ chứng minh liên quan đến việc phạm tội. Xét, giao trả cho bị cáo, và tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Đối với chiếc xe mô tô và giấy đăng ký xe: 01 (một) xe môtô, hiệu Spacy, màu trắng - đen, biển kiểm soát 67H1-087.78 (đã qua sử dụng) cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số 67H1-087.78 mang tên La Thị Kim I, số máy QMI99115031, số khung JOX006862 của bà Kim I và không liên quan đến việc phạm tội. Xét, giao trả cho bà Kim I.

Theo quy định điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 19/5/2020; Biên lai thu tiền số AA/2017/0002199 ngày 19/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).

Những vấn đề khác:

Đối với người tên Tr, đã cho T ma túy, do không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, chưa làm việc được. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Riêng người tên Q và những người bạn của Q, đã sử dụng trái phép chất ma túy do không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, chưa làm việc được. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo: Bùi Huy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”;

Xử phạt: Bùi Huy T 01 (Một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giam 19/4/2020 (ngày mười chín tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi).

Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bô luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Phạt bị cáo Bùi Huy T 10.000.000 (mười triệu) đồng.

Căn cứ điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điềm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Tịch thu, tiêu huỷ:

01 (một) hộp niêm phong ghi vụ số 85/KLGT-PC09(MT), ngày 20/4/020 có chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Chau Đa Rép và dấu mộc tròn màu đỏ của Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương, Bộ Đội Biên phòng tỉnh An Giang; 01 (một) hộp nhựa màu đen, bên ngoài được quấn băng keo màu đen; 01(một) ống thủy tinh (co thủy tinh); 01 (một) ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) ống kim loại màu trắng; 01 (một) ống mực nhựa màu trắng - đen, bịt kín một đầu; 01 (một) túi vải màu đen, dây vàng, hiệu Everlast; 01 (một) bật lửa màu xanh; 02 (hai) ống hút nhựa màu xanh, được cắt dọc; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, cắt nhọn một đầu; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, khứa một đầu.

- Giao trả:

+ 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, màu bạc, bên ngoài ốp vỏ màu đen; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng - bạc, bên ngoài ốp vỏ viền đen - trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Huy T; số tiền Việt Nam 14.800.000 (mười bốn triệu tám trăm ngàn) đồng cho bị cáo T. Tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo cho việc thi hành án.

+ 01 (một) xe môtô, hiệu Spacy, màu trắng - đen, biển kiểm soát 67H1-087.78 (đã qua sử dụng) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số 67H1-087.78 mang tên La Thị Kim I, số máy QMI99115031, số khung JOX006862 cho bà Kim I.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 19/5/2020; Biên lai thu tiền số AA/2017/0002199 ngày 19/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự

sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo T, bà Kim I có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ