- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH ___________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2020/HS -ST Ngày: 18 -5- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Phấn
Bà Đinh Thị Hồng Thơm
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Tùng– Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo :
Trần Văn Q, sinh ngày 06/7/1983; nơi ĐKHKTT và chỗ ở; tổ dân phố L, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Bố đẻ: Trần Văn X sinh năm 1958. Mẹ đẻ: Cao Thị H sinh năm 1962. Vợ là: Cao Thị O sinh năm 1986 có 5 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án: Không có. Tiền sự: Không có. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa. Người bào chữa của bị cáo: bà Trần Thị Thủy- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nam Định. Người bị hại: chị Đặng Thị T - sinh năm 1981 Trú tại: xóm 9, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: : ông Đặng Đức K - sinh năm 1957 Nơi cư trú: xóm 32, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Người làm chứng: *chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 Nơi cư trú: tổ DP L, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định. *ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963 Nơi cư trú: xóm 1, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định ( trợ giúp viên pháp lý Trần Thị Thủy, chị Đặng Thị T, ông K có mặt, chị Là, ông Đ vắng mặt tại phiên tòa)
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố về hành vi phạm tội như sau: Trần Văn Q là lái xe taxi cho Công ty TNHH thương mại và dịch vụ chi nhánh tại Nam Định. Sáng ngày 18/9/2019 Q điều khiển xe ô tô Huyndai Gran I10 loại 5 chỗ ngồi màu sơn bạc BKS: 18A-064.51 chở chị Nguyễn Thị L và cháu Đỗ Quang M từ thị trấn Q, huyện G đi Thái Bình khám bệnh. Khi đến địa bàn huyện Xuân Trường, Q đi theo tỉnh lộ 489C đến phà Sa cao. Khoảng 7 giờ 58 phút khi vào ngà tư đường giao với tỉnh lộ 488 thì chị Đặng Thị T sinh năm 1981 quê ở xóm 9, xã X, huyện X đã điều khiển xe mô tô Honda SH màu đen, BKS: 18F1-256.44 theo hướng xã Xuân Thượng đi Xuân Thành vào ngã tư trước và đã sang đến làn đường xe của Q. Do không chú ý quan sát, không chấp hành quy định khi xe vào đường giao nhau, Q đã điều khiển xe ô tô đi tốc độ 82,8 km/giờ và xô vào bên phải xe mô tô của chị T, hất văng mô tô cùng chị T trên làn đường 489C; xe ô tô của Q đâm vào thành cầu đá số 11 làm đổ dậu lan can đá rồi bật trở lại đường tỉnh lộ 489C đầu xe hướng về phà Sa Cao. Chị T bị đa chấn thương nặng được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định sau đó chuyển lên Bệnh viện Việt Đức-Hà Nội đến 10/10/2019 xuất viện. Chị L và cháu M ngồi trong xe ô tô của Q không bị thương tích gì.
Khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh lộ 489C và đường tỉnh lộ 488 thuộc địa phận xóm 1, xã Xuân Phong và cầu số 11 trên tỉnh lộ 489C mới bắc qua sông tưới tiêu. Đường tỉnh lộ 489C và tỉnh lộ 488 đều là đường hai chiều, ở giữa đều có vạch sơn vàng đứt nét phân chia làn đường, lòng đường tỉnh lộ 489C rộng 11,2m, lòng đường 488 rộng 7,5m. Hiện trường để lại 01 xe mô tô BKS: 18F1-25644 bị gẫy làm đôi đổ nghiêng bên trái, đầu xe quay về hướng thị trấn Xuân Trường, đuôi xe quay về hướng phà Sa Cao, trục bánh trước và trục bánh sau cách mép đường bên phải hướng thị trấn Xuân Trường đi phà Sa Cao lần lượt là 3,2m và 3,4m. Xe ô tô BKS:18A-06451 dừng trên mặt đường 489C, phần đầu xe bị hư hỏng, quay về hướng phà Sa Cao, đuôi xe quay về hướng thị trấn Xuân Trường, trục bánh trước và trục bánh sau bên ghế lái cách mép đường bên phải hướng thị trấn Xuân Trường đi phà Sa Cao lần lượt là 2,05m và 1,2m và cách trục sau xe mô tô BKS: 18F1- 256.44 là 6,9m. Ngoài ra hiện trường còn để lại 09 vết cày, 02 vết trượt, 02 vết vỡ đá của cầu số 11 và các mảnh nhựa vỡ nằm trên làn đường hướng từ thị trấn Xuân Trường đi phà Sa Cao. Vết cày số (1) dài 0,9m có hướng từ thị trấn Xuân Trường đi phà Sa Cao, đầu và cuối vết cày cách mép đường bên phải hướng thị trấn Xuân Trường đi phà Sa Cao lần lượt là 4,1m và 3,85m.
Khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 18F1-256.44: Xe mô tô bị hư hỏng hoàn toàn: cụm đèn chiếu sang, cụm đèn đồng hồ, yếm chắn gió, đèn chuyển hướng, ốp nhựa khu vực để chân người lái, thanh kim loại để chân người ngồi sau, yên xe bị vỡ, gẫy, rời khỏi xe, bộ phận máy bị gẫy rời khỏi khung xe.
Khám nghiệm xe ô tô Huyndai Gran i10, BKS: 18A-064.51: toàn bộ khu vực ba đờ sốc bị rời khỏi vị trí ban đầu, mặt cụm đèn pha phía trước bị gẫy rời khỏi vị trí ban đầu, nắp ca pô bị núm, lệch theo hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, thanh kim loại bảo vệ két nước bị cong vênh theo hướng từ trước về sau, ép sát vào két nước, mặt trước thanh kim loại có nhiều vết cào xước, núm, rách, bào mòn kim loại và dính chất bột màu trắng và bong tróc sơn.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 23 ngày 04/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Trường kết luận: Tại thời điểm sau tai nạn, giá trị tài sản bị thiệt hại của xe mô tô BKS: 18F1- 256.44 là 44.000.000 đồng. Giá trị tài sản cần phải sửa chữa, thay mới của các bộ phận thành lan can đá cầu số 11: km 10+ 819,35 tỉnh lộ 489C mới là 23.000.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 921 ngày 04/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Tốc độ của xe mô tô BKS: 18F1 256.44 tại thời điểm xảy ra tai nạn là: 51km/h (± 2,4km).Tốc độ của xe ô tô BKS: 18A- 064.51 tại thời điểm xảy ra tai nạn là: 82,8 km/h (± 3,7km)
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 234 ngày 12/11/2019 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Đặng Thị T do thương tích gây nên hiện tại là 86%
Cáo trạng số 06/CT - KS ngày 19/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt Trần Văn Q từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng về tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ. Trách nhiệm dân sự không đặt ra. Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe đã thu giữ.
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền lợi cho bị cáo nhất trí tội danh viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo khai báo thành khẩn, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và khắc phục hậu quả sửa chữa thành cầu, Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Gia đình bị cáo khó khăn là lao động chính, thuộc hộ cận nghèo.
Bị hại và người đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 18/9/2019. Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 8 giờ 15 phút ngày 18/9/2019. Biên bản khám xe mô tô và xe ô tô ngày 18/9/2019; Kết luận giám định số 921/PC09-Kl ngày 04/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Kết luận định giá tài sản 23/KL-HĐĐG ngày 04/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Trường; Kết luận số 234/19/TgT ngày 12/11/2019 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Nam Định. Lời khai người làm chứng là ông Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị L. Như vậy đủ cơ sở kết luận khoảng 7 giờ 58 phút ngày 18/9/2019 tại ngã tư giao nhau giữa tỉnh lộ 489C và tỉnh lộ 488 thuộc xóm 1, xã Xuân Phong, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Trần Văn Q đã không chú ý quan sát, không chấp hành quy định hiệu lệnh các biển báo, điều khiển xe ô tô Huyndai Gran i10, BKS: 18A-064.51 đi quá tốc độ cho phép nên đã xô vào xe mô tô Honda SH, màu đen, BKS: 18F1-256.44 của chị Đặng Thị T làm chị T bị thương tích tổn hại 86% sức khỏe là vi phạm Điều 7 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT của Bộ giao thông vận tải và khoản 11 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Hành vi trên của Trần Văn Quyền đã phạm tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ. Tội phạm và hình phạt qui định tại điểm b khoản 1 điều 260 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại tới trật tự an toàn giao thông đường bộ. Trong lúc tình hình trật tự an toàn giao thông diễn biến phức tạp, Nhà nước đang phát động năm an toàn giao thông, đề ra nhiều chính sách nhằm hạn chế tai nạn giao thông, các cơ quan ban ngành nhiều nỗ lực tuyên truyền vận động mọi người chấp hành luật lệ giao thông nhưng tai nạn vẫn không giảm, gây thiệt hại nhiều về người và của cho xã hội, Bị cáo có giấy phép lái xe nhưng lại thiếu ý thức tuân thủ luật giao thông đường bộ nên gây ra tai nạn trên làm thiệt hại về sức khỏe, tài sản của chị T. Do đó cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung ngoài xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bản thân gia đình bị cáo khó khăn con phải mổ não điều trị tại bệnh viện do tai nạn, Bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội. Bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 điều 51 BLHS.
Về trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận bồi thường, bị cáo khắc phục thiệt hại do xô đổ thành cầu đá; công ty THHH thương mại và dịch vụ NM chi nhánh tại Nam Định không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì cho công ty và không ai yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét nữa.
Xét thấy không cần thiết cấm đảm nhiệm hành nghề đối với bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Áp dụng điểm b khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 18/5/2020).
- Giao bị cáo Trần Văn Q cho UBND thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên trả lại bị cáo Giấy phép lái xe số 080154007913 mang trên Trần Văn Q.
4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp , quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo, Chị Đặng Thị T, ông K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện Xuân Trường; - Công an huyện Xuân Trường; - UBND TT Q; - Bị cáo;Trợ giúp viên PL; - Bị hại, Người đượcUQ của bị hại, - Lưu HS+VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Ngọc Quỳnh |