- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------------------- Bản án số: 25/2020/HS-ST Ngày 06/5/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Chi.
Ông Đàm Hữu Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
28/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 29/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 tại Vĩnh Phúc. Nơi đăng ký
hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố K, phường T, thành phố
Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:
9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt
Nam; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Vợ: Nguyễn
Thị L, sinh năm 1990; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm
2016; Danh chỉ bản số 53 lập ngày 26/12/2019 của Công an huyện Sóc Sơn;
Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Từ ngày 25/12/2019 đến ngày 31/12/2019;
Tạm giam: Từ ngày 31/12/2019 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 25/12/2019, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội
phạm về ma túy, Công an huyện Sóc Sơn đang làm nhiệm vụ tại thôn Bình
An, xã trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội phát hiện và kiểm tra 01 đối tượng: Nguyễn Văn H, sinh 1983, ở Tổ dân phố K, phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra thu giữ: 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng. H khai vừa mua được ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Quá trình điều tra làm rõ: Do nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày
25/12/2019, Nguyễn Văn H đi xe bus từ nhà lên khu vực thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng. Khi đi qua cầu Đa Phúc khoảng 03 km hướng Hà Nội đi Thái Nguyên, H gặp một người nam giới không quen biết đứng rìa đường bên phải. H đặt vấn đề mua 100.000 đồng tiền ma túy Heroine, người nam giới đồng ý. H đưa cho người nam giới tiền và nhận lại 01 gói ma túy Heroin vỏ bằng giấy màu trắng. Nhận ma túy xong, H giấu ở túi áo khoác bên phải đang mặc rồi tiếp tục bắt xe bus xuống huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tìm hiệu thuốc, mục đích để mua kim tiêm sử dụng ma tuý. Khi đến khu vực siêu thị Bình An, thuộc thôn Bình An, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, H xuống xe bus tìm chỗ mua kim tiêm nhưng chưa kịp mua thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và tạm giữ số Heroine trên.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn đã ra
Quyết định trưng cầu giám định số 11 ngày 25/12/2019 đối với số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn H.
Tại kết luận giám định số 8600/KLGĐ-PC54 ngày 31/12/2019, phòng
PC 09, Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,190 gam.
Đối với người nam giới bán ma túy cho H tại khu vực thị xã Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên, Hoá khai không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ để xử lý đối tượng trên là có căn cứ.
Về vật chứng, tài sản thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an
huyện Sóc Sơn tạm giữ của H: 01 phong bì niêm phong ma túy, có chữ ký của Nguyễn Văn H và cán bộ Công an.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận hành
vi phạm tội. Lời khai của bị can phù hợp với kết quả thu giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 04/3/2020, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo
trạng đã truy tố. Bị cáo khai tàng trữ 0,190 gam ma túy loại Heroine với mục
đích sử dụng cho cá nhân, không có mục đích bán cho người khác kiếm lời. Bị
cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được giảm
nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại
phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng
định việc truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội danh và điều luật như Cáo trạng
đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng
xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38,
Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Xử phạt: Nguyễn Văn H từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
tạm giữ 25/12/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị cáo là đối tượng nghiện,
không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì chứa ma túy đã niêm phong có chữ ký
của Nguyễn Văn H và Giám định viên.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá
trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không
có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên
tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ tài liệu khác có trong
hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày
25/12/2019 tại khu vực siêu thị Bình An thuộc thôn Bình An, xã trung Giã,
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái
phép 0,190 gam ma túy loại Heroine thì bị Tổ công tác của Công an huyện
Sóc Sơn kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Số ma túy trên, bị cáo khai mua để sử
dụng cho cá nhân, không có mục đích bán kiếm lời.
Như vậy, hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình
sự năm 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục
đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c, Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
...”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn H
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản
lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm khác; là một vấn nạn mà xã hội đang lên án và đấu tranh nhằm loại trừ. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do thiếu tu dưỡng bản thân, không chấp hành quy định của pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân
thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa,
bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật
Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng”. Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề
nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ
sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Xác định 0,190 gam ma túy loại Heroine do bị
cáo tàng trữ là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 14 (Mƣời bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2019.
2. Về vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì chứa ma túy đã niêm phong có chữ ký
của bị cáo Nguyễn Văn H và Giám định viên. (Vật chứng đang được lưu giữ
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, tình trạng như Biên bản bàn
giao vật chứng ngày 10/3/2020 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
3. Về án phí sơ thẩm:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Toà án;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ
thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
- Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Sóc Sơn; - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Duy Khoa |