- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hiền - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH ĐỊNH ––––––––––––––– Bản án số: 25/2020/HS-ST Ngày 21-7-2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lộc;
2. Ông Trần Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Mai Thanh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1004/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; quê quán: huyện HN, tỉnh BĐ; nơi cư trú: Khối TL, thị trấn BS, huyện HN, tỉnh BĐ (nay là Khu phố TL, phường BS, thị xã HN, tỉnh BĐ); nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn L (chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ Đoàn Thị L1 (đã ly hôn năm 2019) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016 và nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại có mặt.
- Bị hại:
+ Ông Phan B, sinh năm: 1933 (chết); nơi cư trú trước khi chết: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL.
+ Ông Phan Văn H1, sinh năm: 1943 (chết); nơi cư trú trước khi chết: KP PT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Phan B:
+ Bà Trần Thị M, sinh năm: 1935; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL.
+ Chị Phan Thị Ánh T, sinh năm: 1966; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL;
+ Anh Phan Ngọc T2, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL (có mặt);
+ Anh Phan Thái H1, sinh năm: 1968; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL;
+ Anh Phan Đức T3, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL;
+ Anh Phan Thanh T4, sinh năm: 1970; nơi cư trú: 237-South Aron Place A Naheim CA: 92804;
+ Chị Phan Thị Ánh T5, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL;
+ Anh Phan Tấn L1, sinh năm: 1977; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL;
+ Anh Phan Văn A, sinh năm: 1978; nơi cư trú: 145/3 Lê Đức Thọ, P17, quận GV, Thành phố HCM.
+ Anh Phan Trung C, sinh năm: 1983; nơi cư trú: 99/8/8 đường TA 21, phường TA, Q 12, Thành phố HCM.
+ Anh Phan Công D, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị M, chị Phan Thị Ánh T1, anh Phan Thái H, anh Phan Đức T3, anh Phan Thanh T4, chị Phan Thị Ánh T5, anh Phan Tấn L, anh Phan Văn A, anh Phan Trung C, anh Phan Công D: Anh Phan Ngọc T2, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Thôn BM, xã BT, thị xã BH, tỉnh ĐL. (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Văn H1:
+ Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1945; nơi cư trú: KP PT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T6: Anh Phan Bá C1, sinh năm: 1975; nơi cư trú: tỉnh lộ 934, ấp CT, thị trấn MX, huyện MX, tỉnh ST (có mặt);
+ Chị Phan Thị Khánh M1, sinh năm: 1969; nơi cư trú: Thôn TT3, xã MQ, huyện PM, tỉnh BĐ (có mặt);
+ Chị Phan Thị Khánh H1, sinh năm: 1971; nơi cư trú: KP PT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ (có mặt);
+ Anh Phan Bá C1, sinh năm: 1975; nơi cư trú: tỉnh lộ 934, ấp CT, thị trấn MX, huyện MX, tỉnh ST (có mặt);
+ Anh Phan Bá T7, sinh năm: 1977; nơi cư trú: 52 NH5, phường HA, quận CL, thành phố ĐN (có mặt);
+ Anh Phan Tấn Đ, sinh năm: 1979; nơi cư trú: KP PT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ (có mặt);
+ Chị Phan Thị Khánh H2, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Khu phố AP, thị trấn NM, huyện PC, tỉnh BĐ (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH PH; địa chỉ: 116 QT, phường BS, thị xã HN, tỉnh BĐ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Ngọc P, sinh năm: 1943; chức danh: Giám đốc (có mặt);
+ Anh Phan Tấn Đ, sinh năm: 1979; nơi cư trú: KP PT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ (có mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh Lê Phước L1, sinh năm: 1977; nơi cư trú: KP PT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ (vắng mặt);
+ Anh Võ Văn T8, sinh năm: 1974; nơi cư trú: BC, HĐ, HN, BĐ (vắng mặt);
+ Anh Nguyễn Văn V, sinh năm: 1963; nơi cư trú: BC, HĐ, HN, BĐ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 02/01/2020, Nguyễn Văn H (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 77C-191.10 của Công ty TNHH Pg H, chạy trên Quốc lộ 1A, theo hướng Nam - Bắc, với vận tốc 80 - 81km/h. Khi đến đoạn đường thuộc KP PT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ đoạn có gờ giảm tốc, có biển báo chú ý quan sát và biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên khoảng 15 mét thì H phát hiện ông Phan Văn H1 điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462 chở ông Phan B đi qua đường theo hướng Đông nam – Tây bắc. Thấy vậy, Nguyễn Văn H vừa đạp phanh, vừa đánh tay lái xe ô tô về phía bên trái theo hướng lưu thông của mình để tránh nhưng do khoảng cách gần, không xử lý kịp dẫn đến phần cản bên trái đầu xe ô tô do H điều khiển tông vào phần đuôi bên trái xe mô tô do ông Phan Văn H1 điều khiển gây tai nạn giao thông. Hậu quả: ông Phan B chết tại chỗ, ông Phan Văn H1 bị thương cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, đến ngày 03/01/2020 thì tử vong.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được mô tả tại Sơ đồ hiện trường và Biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 02/01/2020.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 04/2020/PY-TT ngày 06/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận: Nguyên nhân chết của ông Phan B là suy hô hấp cấp do chấn thương gãy nhiều xương lồng ngực gây tràn khí, tràn máu màng phổi + đa chấn thương. (Bút lục số: 25).
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 06/PC09 ngày 06/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận: Nguyên nhân chết của Phan Văn H1 do chấn thương sọ não, nứt sọ. (Bút lục số: 27-28).
Về dân sự: Đại diện gia đình bị hại Phan Văn H1 yêu cầu bồi thường số tiền 300.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại Phan B yêu cầu bồi thường số tiền 204.000.000 đồng. Nguyễn Văn H cùng chủ phương tiện đã bồi thường cho gia đình bị hại Hòa số tiền 50.000.000 đồng và tự nguyện nộp 50.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ. Hiện nay các bên đã thỏa thuận bồi thường xong về thiệt hại tính mạng. Thiệt hại tài sản là xe ô tô biển số kiểm soát 77C-19110 và xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462, các chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường.
Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô biển số kiểm soát 77C-19110; một Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số kiểm soát 77C-19110; 01 xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy biển số kiểm soát 77H7-7462. Ngày 10/3/2020 và ngày 10/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Mỹ đã giao trả xe ô tô biển số kiểm soát 77C-19110 và xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462 cho chủ sở hữu xong.
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSPM ngày 15/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định giữ nguyên quyết định truy tố, nêu luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Nguyễn Văn H từ 12 đến 18 tháng tù.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
+ Thiệt hại tài sản là xe ô tô biển số kiểm soát 77C-191.10 và xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462, các chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường nên không xét.
+ Đối với thiệt hại tính mạng của ông Phan B: Các bên đã thỏa thuận bồi thường số tiền 80.000.000 đồng xong, nên không xét.
+ Đối với thiệt hại tính mạng của ông Phan Văn H1: Các bên đã thỏa thuận bồi thường số tiền 150.000.000 đồng xong, nên không xét.
- Về các biện pháp tư pháp:
+ Hoàn trả số tiền 50.000.000 đồng mà bị cáo H đã nộp để đảm bảo công tác thi hành án.
+ Hoàn trả cho Công ty TNHH PH 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số kiểm soát 77C-19110 đứng tên Công ty TNHH PH.
+ Hoàn trả cho anh Phan Tấn Đ 01 (một) Đăng ký xe mô tô, xe máy biển số kiểm soát 77H7-7462 mang tên Phan Tấn Đ.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên; không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình mà giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại Phan Bh xác nhận: Đã nhận đủ số tiền 80.000.000 đồng do Công ty TNHH PH bồi thường. Không có yêu cầu bồi thường thêm, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H;
Tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại Phan Văn H1 xác nhận: Đã nhận đủ số tiền 150.000.000 đồng do Công ty TNHH PH bồi thường. Không có yêu cầu bồi thường thêm, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Tại phiên tòa đại diện Công ty TNHH PH là ông Trương Ngọc P xác định chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 77C-191.10 là của Công ty TNHH PH đứng tên chủ sở hữu. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra đến nay đã thương lượng, bồi thường cho gia đình nạn nhân Phan Văn H1số tiền 150.000.000 đồng và gia đình nạn nhân Phan B số tiền 80.000.000 đồng. Chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 77C-191.10 Công ty đã nhận lại xong, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại xe và không yêu cầu bị cáo H có nghĩa vụ bồi hoàn tiền cho Công ty.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Tấn Đ xác định: Xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462 là của anh Phan Tấn Đ đứng tên chủ sở hữu. Do không có nhu cầu sử dụng, nên anh Đ để xe mô tô tại gia đình, ông H1 (là cha anh Đ) tự ý lấy sử dụng dẫn đến tai nạn giao thông. Anh Đ đã nhận lại xe mô tô xong và không yêu cầu bồi thường thiệt hại xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Phù Mỹ, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường, phù hợp với biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tại nạn giao thông và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 02/01/2020, tại đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc KP PT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ (đường tránh Quốc lộ 1A - thị trấn PM), bị cáo Nguyễn Văn H trực tiếp điều khiển xe ô tô biển số kiểm soát 77C-191.10 của Công ty TNHH PH tham gia giao thông theo hướng Bắc – Nam, với vận tốc khoảng 80-81 km/h. Đoạn đường này có các biển báo hiệu nguy hiểm: giao nhau với đường không ưu tiên, có đèn màu vàng báo hiệu “chú ý quan sát”, có gờ giảm tốc nhưng bị cáo H chủ quan không giảm tốc độ của xe ô tô, nên khi phát hiện ông Phan Văn H1 điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462 chở sau ông Phan B đang qua đường theo hướng từ Đông nam sang Tây bắc, bị cáo H đạp phanh và đánh tay lái về bên trái theo hướng lưu thông để né tránh nhưng không kịp. Phần cản bên trái đầu xe ô tô do bị cáo H điều khiển tông vào đuôi bên trái xe mô tô do ông Phan Văn H1 điều khiển gây tai nạn giao thông. Hậu quả: ông Phan B chết tại hiện trường vụ tai nạn; ông Phan Văn H1 chết khi đang cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định.
Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, bị cáo H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý, điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ đã vi phạm Điều 12 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1, 3 Điều 5 thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải, gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm chết 02 người.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng số: 24/CT-VKSPM ngày 15/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông được xác định là lỗi hỗn hợp giữa bị cáo H và nạn nhân H1: Đối với bị cáo H điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ trong khu vực có đường giao nhau và có biển báo nguy hiểm là vi phạm Điều 12 Luật Giao thông đường bộ. Đối với nạn nhân H1 điều khiển xe mô tô qua đường không đảm bảo an toàn, không có tín hiệu qua đường là vi phạm khoản 1 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Việc chấp hành nghiêm chỉnh quy định về an toàn giao thông đường bộ là điều kiện bắt buộc đối với tất cả mọi người khi tham gia giao thông đường bộ. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, để lại hậu quả rất nghiêm trọng. Hành vi đó không những trực tiếp gây thiệt hại cho tính mạng 02 người; gây đau thương, mất mát lớn cho gia đình bị hại, mà còn làm ảnh hưởng chung đến tình hình quản lý an ninh trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Nên cần thiết phải lên một mức án tương xứng với hậu quả mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, để bị cáo có đủ thời gian cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã có trách nhiệm cùng với chủ phương tiện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình các bị hại; người bị hại cũng có một phần lỗi; hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn (có xác nhận địa phương nơi bị cáo cư trú); đại diện gia đình các bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
[5.1] Thiệt hại tài sản là xe ô tô biển số kiểm soát 77C-191.10 và xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462. Tại phiên tòa các chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường nên không xét;
[5.2] Thiệt hại tính mạng của ông Phan B: Các bên đã thỏa thuận bồi thường số tiền 80.000.000 đồng xong. Tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm, nên không xét.
[5.3] Thiệt hại tính mạng của ông Phan Văn H1: Các bên đã thỏa thuận bồi thường số tiền 150.000.000 đồng xong. Tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm, nên không xét.
[6] Về các biện pháp tư pháp:
- Xe ô tô biển số kiểm soát 77C-191.10 và xe mô tô biển số kiểm soát 77H7-7462, Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao trả lại cho chủ sở hữu xong, nên không xét.
- Số tiền 50.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp theo biên lai thu tiền số 06104 ngày 26/02/2020 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để đảm bảo công tác thi hành án. Tuy nhiên, các bên đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, nên hoàn trả lại cho bị cáo H là phù hợp.
- Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô xe máy số 035530; biển số đăng ký 77C-191.10, ngày 08/11/2019 của Công an tỉnh Bình Định cấp cho chủ xe là Công ty TNHH PH. Do các bên đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, nên trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- Đăng ký xe mô tô, xe máy số 00406691; biển số đăng ký 77H7-7462, ngày 15/12/2006 của Công an tỉnh Bình Định cấp cho chủ xe là Phan Tấn Đ, nên trả lại cho anh Đ là phù hợp.
[7] Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
2. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) mà bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp để khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 06104 ngày 26/02/2020 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;
- Trả lại cho Công ty TNHH PH 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô xe máy số 035530; biển số đăng ký 77C-191.10, ngày 08/11/2019 của Công an tỉnh Bình Định cấp cho chủ xe là Công ty TNHH PH;
- Trả lại cho anh Phan Tấn Đ 01 (một) Đăng ký xe mô tô, xe máy số 00406691; biển số đăng ký 77H7-7462, ngày 15/12/2006 của Công an tỉnh Bình Định cấp cho chủ xe là Phan Tấn Đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Bị cáo, đại diện hợp pháp gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND H. Phù Mỹ; - Công an H.Phù Mỹ; - TA tỉnh; - Bị cáo; - THADS H.Phù Mỹ; - Lưu VP- HSVA; - THA phạt tù. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |