vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 17/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 15 ( Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/11/2019. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Lâm tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƯƠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HÒA BÌNH
–––––––––
Bản án số: 25/2020/HS - ST
Ngày: 17/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Hợp và ông Tạ Đình Thanh

Thư ký phiên toà: Bà Hà Phương Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST- HS ngày 03/6/2020 đối với bị cáo:

Lê Văn L. Sinh ngày 17/02/1997.

Trú tại: TA, xã TXT, huyện CM, HN. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 06/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Lê Văn Th và bà Nguyễn Thị B. Vợ là Khà Thị Ng, có 01 con sinh năm 2017. Gia đình bị cáo có 01 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 79/2015/HSST ngày 24/6/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2019 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Vũ Văn Ng – Sinh năm 1998

Trú tại: Thôn CT, xã TXT, huyện CM, TP HN.

2/ Anh Đỗ Danh Đ – sinh năm 1995

Trú tại: Thôn YT, xã ĐY, huyện QO, TP HN.

3/ Anh Vũ văn H – sinh năm 1994

Trú tại: Thôn CT, xã TXT, huyện CM, TP HN.

4/ Anh Hoàng Văn Gi – sinh năm 1997

Trú tại: Xóm 6, xã NĐ, huyện NS, tỉnh TH

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 12 tháng 11 năm 2019, Lê Văn L, sinh năm 1997, HKTT: TA, xã TXT, huyện CM, thành phố HN chơi ở quán Bia 86 thị trấn XM, huyện CM, thành phố HN đã hỏi mượn Vũ Văn N, sinh năm 1998, HKTT: xã TXT, huyện CM, thành phố HN một xe máy nhãn hiệu YAMAHA loại Exciter màu xám đen không có biển kiểm soát để đi mua cơm về ăn. N đồng ý cho L mượn xe, sau khi mượn đươc xe Lâm gọi điện thoại cho một người đàn ông tên Th ở khu vực CT, xã HS, LS, HB hỏi mua ma túy với mục đích để sử dụng và được Th đồng ý bán ( L lưu trong danh bạ điện thoại là “ B.Th”, số điện thoại là 0969625724) , L dùng xe máy mượn của N đi lên nhà Th, khi đến cổng nhà Th thì có một người đàn ông ( L không nhìn rõ mặt và không biết người đàn ông này là ai) đi từ trong nhà đi ra, thấy người đàn ông này thì L bảo “ vừa gọi điện lên đấy” thì người đàn ông này hỏi “ lấy bao nhiêu” có nghĩa người dàn ông hỏi L mua bao nhiêu tiền ma túy, L trả lời chỉ có 260.000 đồng và hỏi mua một gói giá 300.000 đồng, người đàn ông đồng ý bán ma túy cho L giá 260.000 đồng, ma túy được gói bằng túi linon màu trắng có viền xanh. Sau khi mua được ma túy L cất ma túy vào túi quần bò đằng trước phía bên phải của L đang mặc rồi đi về, qua đoạn đường rẽ vào khu TS, xã HS, huyện LS, HB thì bị Công an huyện LS phát hiện bắt giữ. Tai trụ sở UBND xã HS L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp gói ma túy L đang tàng trừ tại túi quần bò đằng trước phía bên phải mà L đang mặc. Công an huyện LS đã tiến hành lập biên bản thu giữ niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 394/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 15/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình kết luận:

- Chất dạng tinh thể màu trắng trong trong phong bì niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng là 0,13g là ma túy dạng Methamphetamine.

Quá trình điều tra tại Cơ quan công an Lê Văn L khai nhận ngoài lần mua ma túy của Th vào ngày 12/11/2019 được mua ma túy của người đàn ông tên Th ba lần mục đích mua ma túy về để sử dụng.

Ngày 18/11/2019 Cơ quan điều tra Công an huyện LS có công văn số 251 gửi phòng PC 08 công an tỉnh Hòa Bình về việc tra cứu nguồn gốc chiếc xe. Ngày 21/11/2019 phòng PC 08 công an tỉnh HB có công văn trả lời, chiếc xe nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh xám đen BKS: 36G1 – 29491, có số khung: RLCUG0610HY552207 và số máy: G3D4E576539 có chủ sở hữu Hoàng Văn Gi, SN: 1997, HKTT: xóm 6, NĐ, NS, TH. Cơ quan CSĐT Công an huyện LS đã tiến hành làm việc với Hoàng Văn Gi thì được biết: chiếc xe YAMAHA Exciter màu xanh xám đen Gi mua khoảng vào tháng 12/2017 đến tháng 01/2018, Gi đã đi đăng ký chiếc xe và có BKS: 36G1 – 29491, Giang sử dụng chiếc xe đi làm tại khu vực HN, đến tháng 8/2018, thì bị mất trộm tại khu vực phường DVH, quận CG, HN khi mất trộm mất cả giấy đăng ký xe. Đến ngày 22/8/2018, Gi có đơn trình báo đến Công an phường DVH. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh tại Công an phường DVH được biết qua rà soát hệ thống tiếp nhận tin báo của Công an phường, vào ngày 22/8/2019, Công an phường DVH có tiếp nhận đơn trình báo của anh Hoàng Văn Gi, SN: 1997, HKTT: xóm 6, NĐ, NS, TH về việc vào sáng ngày 22/8/2019, Gi có mất trộm chiếc xe nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh xám đen BKS: 36G1 – 29491 tại tổ 25, phường DVH, CG, HN, mất cả đăng ký xe. Công an phường DVH đã tiếp nhận đơn trình báo xác minh và lập hồ sơ ban đầu.

Quá trình làm việc tại Cơ quan CSĐT Công an huyện LS đã tiến hành ghi lời khai Vũ Văn N, SN: 1998, HKTT: CT, TXT, CM, HN. Vũ Văn N khai tối ngày 12/11/2019 L có mượn chiếc xe YAMAHA Exciter BKS: 36G1 – 29491 để đi mua cơm về ăn, N đồng ý cho L mượn xe, N không biết L sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy(giá đỡ của biển kiểm soát bị gãy nên N đã tháo biển kiểm soát của chiếc xe ra để ở nhà). N mua chiếc xe vào tháng 03/2019 của Đỗ Danh Đ, SN: 1995 ở YT, ĐY, QO, HN với giá 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), khi mua xe N có làm hợp đồng mua bán xe, đứng tên trong hợp đồng mua bán xe với Đỗ Danh Đ là Vũ Văn H, SN: 1994 ở CT, TXT, CM, HN là anh trai của Vũ Văn N.

Bản Cáo trạng số 24/CT-VKSLS ngày 04/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố Lê Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Văn L từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng vụ án:

- 01 phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “ mẫu giám định ma túy, cán bộ giám định Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 15/11/2019, số nhận giám định số : 349 ngày 13/11/2019. Cơ quan trưng cầu; cơ quan CSĐT công an huyện LS, HB sô: 208 ngày 13/11/2019, tên đối tượng Lê Văn L, tên mẫu vật Methaphetamine,số lượng 01. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HB cần tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định.

- 01 điện thoại di động kiểu dáng cảm ứng màu xanh, góc bên phải mặt phía trước bị vỡ, phía sau có chữ Realme, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy, tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 xe máy nhãn hiêu YAMAHA, màu xám đen loại xe Exciter, xe không có biển kiểm sát, không có gương chiếu hậu xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng xe; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 36G1 – 29491 trả lại cho chủ sở hữu anh Hoàng Văn Giang

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Văn N không có yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin được mức án thấp nhất để sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Tội phạm xảy ra tại thôn CT, xã HS, huyện LS, tỉnh HB, bị cáo bị truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là 05 năm, theo quy định tại Điều 268, 269 Bộ luật tố tụng hình sự là thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện LS, tỉnh HB.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lương Sơn, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện LS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa anh Vũ Văn N, anh Đỗ Danh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai và yêu cầu bồi thường của họ, việc họ vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của họ nên Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy đã có đủ căn cơ sở xác định hồi 21 giờ 30 phút ngày 12/11/2019, bị cáo Lê Văn L, sinh năm 1997 trú tại TA, xã TXT, huyện CM, thành phố HN đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,13g chất ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an trên địa bàn, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác.

Bị cáo Lê Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc mua và cất giữ bất hợp pháp ma túy để sử dụng cho bản thân bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội, bị cáo tàng trữ trái phép ma túy dạng Methamphetamine có tổng khối lượng 0,13g nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện LS, tỉnh HB truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Về nhân thân: Bản án số 79/2015/HSST ngày 24/6/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Với nhân thân và tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện hút không có công việc và thu nhập ổn định, bị cáo không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của bị cáo Lâm, bị cáo khai là mua của người đàn ông tên Th nhà ở khu vực CT, xã HS, huyện LS, tỉnh HB, Cơ quan điều tra công an huyện LS đã tiến hành xác minh rà soát trên địa bàn xóm CT và các xóm lân cận theo như mô tả của L nhưng không có đối tượng nào tên Th có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Đối với Vũ Văn N là người đã mua lại chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh xám đen BKS: 36G1 – 29491 của Đỗ Danh Đ vào khoảng tháng 03/2019 việc mua bán xe có làm hợp đồng mua bán ( khi mua anh trai của N là Vũ Văn H đứng ra làm hợp đồng mua bán). Vũ Văn N không biết chiếc xe là tài sản bị mất trộm. Vào tối ngày 12/11/2019 L có mượn chiếc xe YAMAHA Exciter để đi mua cơm về ăn, Nghiệp đồng ý cho L mượn xe, N không biết L sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy. Do đó xác định Vũ Văn N, Vũ Văn H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đối với Đỗ Danh Đ, SN: 1995, HKTT: YT, ĐY, QO, HN cho biết vào khoảng tháng 01/2019, Đ có mua chiếc xe nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh xám đen BKS: 36G1 – 29491 của một người đàn ông ở QO, HN, Đ không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, khi mua không làm giấy tờ mua bán xe, chỉ đưa giấy tờ xe, Đ mua chiếc xe với giá 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), Đường sử dụng chiếc xe được khoảng hai tháng, sau đó không có nhu cầu sử dụng tiếp thì Đường có bán lại cho Vũ Văn H, SN: 1994, HKTT: CT, TXT, CM, HN với giá 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), khi bán có hợp đồng mua bán xe. Khi mua Đ không biết chiếc xe là tài sản do phạm tội mà có. Do đó xác định Đỗ Danh Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đối với số điện thoại 0969.625.724 bị can Lê Văn L khai nhận gọi để mua ma túy ngày 12/11/2019. Ngày 18/02/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện LS đã ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín số. Ngày 07/3/2020 Tập đoàn CNVT Quân đội Viettel có Công văn trả lời số 570 với nội dung: chủ thuê bao số 0969.625.724 Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1980, địa chỉ TP, CĐ, CT. Cơ quan CSĐT Công an huyện LS đã ra Quyết định ủy thác điều tra số 02 ngày 24/3/2020 gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ để tiến hành xác minh Nguyễn Văn Th có còn sử dụng số thuê bao 0969.625.724 không, nếu có sử dụng ngày 12/11/2019 có nhận cuộc gọi nào từ số thuê bao 0357.704.904 không. Hiện nay do hết thời hạn điều tra nhưng chưa có kết quả trả lời của Cơ quan CSĐT Công an huyện CĐ, TP CT do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện LS tách ra tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả của Cơ quan CSĐT Công an huyện CĐ, TP CT sẽ tiếp hành xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này Hoàng Văn Gi, SN: 1997, HKTT: xóm 6, NĐ, NS, TH là chủ sở hữu chiếc xe YAMAHA Exciter màu xanh xám đen BKS: 36G1 – 2949 mua vào khoảng tháng 12/2017 đến tháng 01/2018 và sử dụng chiếc xe đi làm tại khu vực Hà Nội, đến tháng 8/2018, thì bị mất trộm tại khu vực phường DVH, quận CG, HN khi mất trộm mất cả giấy đăng ký xe và đã trình báo cơ quan có thẩm quyền. Do đó xác định Hoàng Văn Gi là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Văn N không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “ mẫu giám định ma túy, cán bộ giám định Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 15/11/2019, số nhận giám định số : 349 ngày 13/11/2019. Cơ quan trưng cầu; cơ quan CSĐT công an huyện LS, HB số: 208 ngày 13/11/2019, tên đối tượng Lê Văn L, tên mẫu vật Methaphetamine,số lượng 01. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HB. Đây là số ma túy thu giữ của bị cáo Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động kiểu dáng cảm ứng màu xanh, góc bên phải mặt phía trước bị vỡ, phía sau có chữ Realme, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy là công cụ L dùng để liên lạc mua ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu xám đen loại xe Exciter, xe không có biển kiểm sát, không có gương chiếu hậu xê đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng xe; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 36G1 – 29491. Qua xác minh đây là tài sản của anh Hoàng Văn Gi, SN: 1997, HKTT: xóm 6, NĐ, NS, TH bị mất trộm nên trả lai cho chủ sở hữu là anh Giang theo quy định tại điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo Lê Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Từ những căn cứ và nhận định trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; Điều 268, 269, 292; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 15 ( Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/11/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy : 01 phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “ mẫu giám định ma túy, cán bộ giám định Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 15/11/2019, số nhận giám định số : 349 ngày 13/11/2019. Cơ quan trưng cầu; cơ quan CSĐT công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình số: 208 ngày 13/11/2019, tên đối tượng Lê Văn L, tên mẫu vật Methaphetamine,số lượng 01. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HB.

- Tuyên trả lại: 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu xám đen loại xe Exciter, xe không có biển kiểm sát, không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng xe; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 36G1 – 29491 cho anh Hoàng Văn Gi, SN: 1997, HKTT: xóm 6, NĐ, NS, TH.

- Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng cảm ứng màu xanh, góc bên phải mặt phía trước bị vỡ, phía sau có chữ Realme, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LS, tỉnh HB và có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 05 năm 2020.

3. Về án phí: Bị cáo Lê Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ