vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng Tuyên án 25/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Hoàng Văn K 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/4/2020.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo K 5.000.000đ (năm T đồng) để sung công quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Hoàng Văn K 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/4/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày 25-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đình Phùng

Bà Khúc Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Văn K, sinh ngày 15/8/1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn V 2, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959; có vợ là Ngô Thị T3, sinh năm 1986; có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Không; nhân thân: Có 03 tiền án, tại Bản án số 45/HSST ngày 08/01/2003 của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); Bản án số 149/HSPT ngày 24/11/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích” (đã được xóa án tích); Bản án số 27/HSST ngày 29/12/2016 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (đều đã được xóa án tích); tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31/QĐ-XPHC ngày 05/8/2016 của Công an huyện K xử phạt Hoàng Văn K 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã được xóa). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2020; chuyển tạm giam từ ngày 27/4/2020; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Vũ Hữu T, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2. Phạm Thế P, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Hoàng Xuân T4, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn V 2, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ ngày 25/4/2020, Hoàng Văn K đi xe taxi ra khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua 01gói ma túy Heroin đựng trong túi nilon với giá 1.000.000 đồng của người đàn ông không quen biết và nhặt được đoạn ống nhựa. Sau đó K mang về khu vực nghĩa trang xã Đ chia nhỏ vào 26 đoạn ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng được hàn kín hai đầu, mục đích để bán kiếm lời, tại đây K sử dụng hết 02 ống ma túy, còn lại 24 ống ma túy K cất vào túi nilon mang về nhà. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày khi đang ở nhà tại thôn V 2, xã Đ, huyện K thì có người đến gọi cửa. K đi ra cổng thì T nói với K “để lại cho em một cái” tức là T bảo bán cho một ống ma túy và đưa cho K số tiền 100.000 đồng. K đồng ý nhận tiền rồi lấy ra 01 ống ma túy trong túi nilon bán cho T thì bị Công an huyện K bắt quả tang. K bỏ chạy và ném túi nilon đựng 23 ống ma túy còn lại xuống khu đất phía bên trái đầu hồi nhà K thì bị Công an bắt giữ và thu giữ vật chứng: tại túi quần phía trước bên phải của K số tiền 100.000 đồng; tại túi quần phía sau bên trái của T 01 ống nhựa chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu M1); thu giữ dưới nền đất đầu hồi nhà K 01 túi nilon, bên trong có 23 ống nhựa chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu M2).

Theo kết luận giám định số 225/KLGĐ-MT ngày 27/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu M1 là ma túy có khối lượng 0,03 gam, mẫu M2 là ma túy có khối lượng 1,2 gam, tất cả đều là loại Heroin.

Số vật chứng còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói được niêm phong trong 01 phong bì và số tiền 100.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSKT ngày 11/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tội: Khoảng 04 giờ ngày 25/4/2020, K đi xe taxi ra khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua 01gói ma túy Heroin đựng trong túi nilon và nhặt được 01 đoạn ống nhựa với giá 1.000.000 đồng của người đàn ông không quen biết. Sau đó K mang về khu vực nghĩa trang xã Đ, dùng dao tem cắt ống hút nhựa thành từng đoạn được 26 ống, rồi chia số ma túy vừa mua vào 26 đoạn ống hút nhựa và dùng bật lửa để hàn kín 2 đầu, mục đích để bán kiếm lời. Tại đây K sử dụng hết 02 ống ma túy, còn lại 24 ống ma túy K cất vào túi nilon mang về nhà. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày thì có người đến gọi cửa. K đi ra cổng thấy 02 người thanh niên (sau này biết là Vũ Hữu T và Phạm Thế P). T nói với K “bán cho em một ống ma túy” và đưa cho K số tiền 100.000 đồng. K nhận số tiền 100.000 đồng, rồi lấy ra 01 ống ma túy trong túi nilon bán cho T thì bị Công an huyện K bắt quả tang. K bỏ chạy và ném túi nilon bên trong có 23 ống ma túy còn lại xuống đất cạnh đầu hồi nhà K thì bị Công an bắt giữ và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Hữu T khai: Ngày 25/4/2020 T đến nhà P ở xã N, huyện K chơi, đến khoảng 12 giờ 30 Pt cùng ngày, T rủ P đi xã Đ chơi, nhưng không nói cho P biết là đi mua ma túy. Khi đến nhà K, P đứng ở ngoài, T nói chuyện với K ở cổng và hỏi “để lại cho em một cái” nghĩa là hỏi K bán cho T 01 ống ma túy Heroin. T đưa cho K 100.000 đồng. K đồng ý nhận 100.000 đồng và lấy 01 túi nilon bên trong chứa nhiều ống ma túy, K bán cho T 01 ống ma túy thì bị Công an huyện K bắt quả tang. K bỏ chạy và ném túi nilon đựng ma túy xuống khu đất cạnh đầu hồi nhà K thì bị Công an bắt giữ và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Thế P khai: Ngày 25/4/2020 T đến nhà P và rủ đi xã Đ chơi. Khi T nói chuyện với K thì P đứng ở ngoài cách khoảng 2-3m, nhìn thấy T đưa cho K 100.000 đồng và K đưa cho T 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng thì bị Công an huyện K bắt quả tang. P không biết việc T mua ma túy với K để sử dụng bị bắt giữ.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Hoàng Văn K mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo K từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

- Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa 1,06 gam ma túy Heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu M1, M2

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.

Đối với ngôi nhà do Hoàng Văn K sử dụng tại V 2, Đ, K thuộc quyền sở hữu của bố mẹ đẻ bị cáo là ông Hoàng Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2, ông T1 và bà T2 đều không biết việc bị cáo K tàng trữ, bán trái phép chất ma túy nên không bị xử lý.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 13 giờ ngày 25/4/2020, Hoàng Văn K đã có hành vi bán trái phép 0,03 gam ma túy Heroin cho Vũ Hữu T với giá 100.000 đồng và tàng trữ 1,2 gam ma túy Heroin mục đích để bán kiếm lời bị bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo Hoàng Văn K đã thỏa mãn cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất của vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân; đồng thời là điều kiện, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Cần xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo đồng thời để phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng nhân thân bị cáo có 01 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31/QĐ-XPHC ngày 05/8/2016 của Công an huyện K xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã được xóa); có 03 tiền án: tại Bản án số 45/HSST ngày 08/01/2003 của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 149/HSPT ngày 24/11/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”; Bản án số 27/HSST ngày 29/12/2016 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; cả 03 tiền án trên đều đã được xóa án tích. Như vậy, cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh gia đình bị cáo kinh tế bình thường, không thuộc diện hộ nghèo; cần phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Đối với ngôi nhà do Hoàng Văn K sử dụng tại thôn V 2, xã Đ, huyện K thuộc quyền sở hữu của ông Hoàng Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 (là bố mẹ đẻ bị cáo) không phải là tài sản riêng của bị cáo. Ông T1 và bà T2 không biết việc bị cáo K tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy nên không đặt ra tịch thu tài sản để sung công quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì niêm phong chứa 1,06 gam ma túy Heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu M1, M2 cần tịch thu tiêu hủy.

- Về số tiền 100.000 đồng của bị cáo do phạm tội mà có. Cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Trong vụ án này, Vũ Hữu T có hành vi mua ma túy để sử dụng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; số lượng Heroin thu giữ của T không đủ trọng lượng để xử lý về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" nên Công an huyện K đã quyết định xử phạt hành chính là phù hợp. Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi địa chỉ của người bán ma túy cho K nên quyết định tách ra để điều tra xử lý sau là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Hoàng Văn K 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/4/2020.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo K 5.000.000đ (năm T đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa 1,06 ma túy Heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu gửi giám định (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) (Theo biên lai thu tiền số AA.0002758 ngày 11/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong phần phạt tiền, thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ