vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ Tuyên án 08/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh E phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh E 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh E phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày 08-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Thanh Hải

2. Ông Huỳnh Thanh Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2020/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXX-HS ngày 24 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh E sinh năm 2001; Nơi sinh: CĐ, Cần Thơ; Nơi cư trú: Ấp TL, xã TA, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị H; Anh, chị, em ruột có 02 người lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2010.

Tiền sự: không

Tiền án: Không

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2020 đến nay.

Bị cáo “có mặt”.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Ấp TL, xã TA, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ “có mặt”

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Cao Thị Kiều T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Ấp TQ, xã TH, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ “vắng mặt”

- Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978 “vắng mặt”

ÔngNguyễn Văn N, sinh năm 1978 “vắng mặt”

Nơi cư trú: Ấp TQ, xã TH, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ.

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 “có mặt”

Anh Phan Trung H, sinh năm 2000 “có mặt”

Nơi cư trú: Ấp TL, xã TA, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ.

Người chứng kiến:

Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 2000 “vắng mặt”

Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1997 “có mặt”

Nơi cư trú: Ấp TL, xã TA, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa,nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ, ngày 13 tháng 6 năm 2020 bị cáo Nguyễn Thanh E về nhà tại ấp TL, xã TA, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ thấy cha ruột là ông Nguyễn Thanh H đang nằm ngủ trên giường, trên cổ ông H có đeo sợi dây chuyền vàng. Lúc này, bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của ông H. Để thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo đến giường nơi ông H ngủ lén lút dùng tay tháo sợi dây chuyền trên cổ ông H. Sau khi lấy được tài sản, bị cáo đi đến tiệm vàng Sáu Nghịa thuộc ấp TQ, xã TH, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ cầm cho chị Cao Thị Kiều T với giá 14.000.000đồng. Sau đó, bị cáo đi đến cầu Cái He thuộc ấp TQ, xã TH, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ mua ma túy của người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 2.000.000đồng. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 14/6/2020 bị cáo bắt xe đi thành phố Hồ Chí Minh, trong lúc chờ xe chạy bị cáo vào nhà vệ sinh lấy ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu trong túi quần. Khoảng 8 giờ cùng ngày, bị cáo đi đến huyện LT, ĐN vào cửa hàng bán điện thoại mua 01 điện thoại di động với giá 2.990.000đồng và 01 sim điện thoại với giá 130.000đồng. Sau khi mua điện thoại, bị cáo lấy ma tuý trong túi quần cất giấu vào cái hộp điện thoại hình chữ nhật màu vàng có chữ C3. Đến 11 giờ cùng ngày, bị cáo đến bến xe Miền Tây mua vé xe về Cờ Đỏ, trong lúc chờ xe chạy bị cáo vào nhà vệ sinh lấy ma tuý ra sử dụng. Đến khoảng 05 giờ sáng ngày 15/6/2020 bị cáo về đến xã TT, huyện CĐ thuê nhà trọ ngủ. Đến 15 giờ cùng ngày trong lúc đang uống cà phê tại quán Đăng Khôi thì Công an xã TH mời bị cáo về trụ sở làm việc vì có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản do ông Nguyễn Thanh H trình báo.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 bịch nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể không màu; 01 cái bọc nilon 02 quay; 01 cái hộp giấy màu vàng hình chữ nhật có ghi chữ C3; 01 bao thuốc lá hiệu Hero; 01 chai xịt khử mùi màu đen; 01 điện thoại di động C3; tiền Việt Nam 1.700.000đồng.

Quá trình điều tra: Ngày 18/6/2020 chị Cao Thị Kiều T tự nguyện giao nộp 01 sợi dây chuyền màu vàng, dài 60 cm.

Tại Bản kết luận giám định số: 226/KL – PC09, ngày 22 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nilon gửi giám định là ma tuý, khối lượng 0,9105 gam, loại Methamphetamine.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 21/KL.HĐ-ĐG ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện CĐ kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 16K, dài 60 cm tổng trọng lượng 05 chỉ 07 phân 02 ly, trị giá 19.448.000 đồng.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho ông Nguyễn Thanh H 01 sợi dây chuyền vàng 16K, dài 60 cm, tổng trọng lượng 05 chỉ 07 phân 02 ly.

Ông Nguyễn Thanh H trả lại cho chị Cao Thị Kiều T số tiền bị cáo E cầm sợi dây chuyền là 14.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 28/CT-VKSCĐ ngày 17 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Thanh E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích chứng cứ, luận tội đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành mức án từ 02 năm 03 tháng đến 03 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho ông Nguyễn Thanh H 01 điện thoại di động Realme C3 và số tiền 1.700.000đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 226 KL - PC9 là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bọc ni lon 02 quay; 01 vỏ thuốc lá hiệu Hero; 01 chai xịt khử mùi màu đen; 01 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng có chữ C3.

Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, yêu cầu hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa đổi bản thân.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CĐ, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Qua đối chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhận thấy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo thống nhất nội dung cáo trạng truy tố bị cáo và khai nhận: Vào khoảng 16 giờ, ngày 13 tháng 6 năm 2020 bị cáo về nhà nhìn thấy (ông H) cha ruột đang nằm ngủ trên giường, trên cổ có đeo sợi dây chuyền bằng vàng nên bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm sợi dây chuyền. Sau khi quan sát thấy ông H ngủ say nên bị cáo đến giường nơi ông H ngủ lén lút dùng tay tháo móc khóa sợi dây chuyền. Khi lấy được tài sản bị cáo đi đến tiệm vàng Sáu Nghịa cầm với giá 14.000.000đồng. Sau đó, bị cáo lấy 2.000.000đồng mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 14/6/2020 bị cáo bắt xe đi đến thành phố Hồ Chí Minh, trong lúc chờ xe khởi hành bị cáo vào nhà vệ sinh lấy ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu trong túi quần. Khoảng 8 giờ ngày 14/6/2020 bị cáo đi đến huyện LT, tỉnh ĐN vào cửa hàng điện thoại di động mua 01 điện thoại di động với giá 2.990.000đồng và 01 sim điện thoại với giá 130.000đồng. Sau khi mua điện thoại, bị cáo lấy ma tuý trong túi quần cất giấu vào cái hộp đựng điện thoại. Đến 11 giờ cùng ngày, bị cáo đến bến xe Miền Tây để trở về Cờ Đỏ, trong lúc chờ xe bị cáo vào nhà vệ sinh lấy ma tuý ra sử dụng. Khoảng 5 giờ sáng ngày 15/6/2020 bị cáo về đến xã TT, huyện CĐ thuê nhà trọ ngủ. Đến 15 giờ cùng ngày bị cáo uống cà phê tại quán Đăng Khôi thì Công an xã TH mời bị cáo về trụ sở làm việc vì có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản do ông Nguyễn Thanh H trình báo.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và những chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra được thẩm tra tại phiên tòa.

Xét thấy, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút lấy trộm tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Tài sản bị cáo lấy trộm có giá 19.448.000đồng. Sau khi lấy trộm tài sản bị cáo mang tài sản đi cầm với giá 14.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy tàng trữ trong người để sử dụng thõa mãn cơ nghiện của bản thân, ma túy mà bị cáo tàng trữ loại Methamphetamine, khối lượng 0,9105 gam, hành vi đó xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đủ yếu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; tài sản thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 03 năm tù về cả hai tội. Xét thấy bị cáo là thanh niên trẻ nhưng chay lười lao động, bản thân nghiện ma túy, thường xuyên tụ tập với các đối tượng xấu, tham gia các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung theo mức án cao nhất mà đại diện Viện kiển sát đề nghị là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Realme C3 và số tiền 1.700.000đồng thu giữ của bị cáo. Đây là tài sản có nguồn gốc từ việc lấy trộm tài sản của ông H. Do đó, trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Thanh H là phù hợp.

Đối với 01 gói niêm phong số 226 KL - PC9 là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bộc ni lon 02 quay; 01 vỏ thuốc lá hiệu Hero; 01 chai xịt khử mùi màu đen; 01 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng có chữ C3 có liên quan đến việc sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh E phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh E 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho ông Nguyễn Thanh H 01 điện thoại di động Realme C3 và số tiền 1.700.000đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 226 KL - PC9 là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bộc ni lon 02 quay; 01 vỏ thuốc lá hiệu Hero; 01 chai xịt khử mùi màu đen; 01 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng có chữ C3.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKS-CĐ ngày 17 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ)

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bị cáo pH nộp 200.000đồng.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày bản án được niên yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ