vanban.org

Bản án 25/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 26/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X đối với bà Võ Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Võ Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị X số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X đối với bà Võ Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/DS-ST
Ngày: 26-09-2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Duy Cửu

Ông Nguyễn Đình Hùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Pha.

Ngày 26/9/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2020/TLST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2020/QĐXX-ST ngày 08 tháng 9 năm 2020 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 68/2020/QĐST-DS ngày 19/9/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, Tp.Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22/7/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày:

Giữa tôi với bà Võ Thị H có mối quan hệ quen biết nên ngày 10/01/2020 (tức ngày16/12 âm lịch năm 2019) tôi có cho bà H mượn số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), bà H hẹn sẽ trả nợ tôi toàn bộ số tiền trên trong vòng 100 ngày. Tuy nhiên, bà H đã không thực hiện đúng như cam kết, tôi đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà H trả nợ nhưng bà H chây ỳ không chịu trả và còn cố tình trốn tránh đối với tôi. Nay tôi kính đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang buộc bà Võ Thị H phải trả cho tôi toàn bộ số tiền gốc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và tôi không yêu cầu tính lãi.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Võ Thị H trình bày:

Tôi thừa nhận có vay của bà Trần Thị X số tiền 100.000.000 đồng để làm ăn, tuy nhiên hiện nay tôi bị thua lỗ nên chưa có tiền để trả, tôi đề nghị được trả cho bà Trần Thị X mỗi tháng 1.500.000 đồng kể từ nay cho đến khi hết nợ.

Nguyên đơn bà Trần Thị X ý kiến: không chấp nhận phương án trả nợ như bà H đề nghị. Kính đề nghị HĐXX buộc bà H phải trả tôi một lần toàn bộ số tiền 100.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo và đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Vào ngày 10/01/2020 (tức ngày16/12 âm lịch năm 2019), giữa bà Trần Thị X và bà Võ Thị H có phát sinh giao dịch vay mượn tiền, đến nay giữa bà X và bà H đều xác nhận bà H còn nợ bà X số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), bà X đã nhiều lần yêu cầu bà H trả số tiền trên nhưng bà H không thực hiện, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điều 463, điều 466 và điều 470 của BLDS, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bà Võ Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Trần Thị X số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đơn khởi kiện, Giấy nợ ngày 10/01/2020 (tức ngày16/12 âm lịch năm 2019), bản sao Giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu bà X; 01 bản tự khai của bà X; 01 bản tự khai của bà H; 01 biên bản xác minh của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Thị X khởi kiện bị đơn là bà Võ Thị H phải trả số tiền 100.000.000 đồng, bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại huyện Hòa Vang. Do vậy, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Không có đương sự nào có yêu cầu áp dụng thời hiệu, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX không áp dụng quy định về thời hiệu trong vụ án này;

Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Về nội dung vụ án:

Vào ngày 10/01/2020 (tức ngày16/12 âm lịch năm 2019) bà Võ Thị H có vay mượn của bà Trần Thị X số tiền 100.000.000 đồng và hẹn trả trong vòng 100 ngày, khi đến hạn trả nợ bà X đã nhiều lần đòi nợ nhưng bà H không thực hiện đúng như cam kết. Tại phiên tòa hôm nay, bà Trần Thị X yêu cầu bà Võ Thị H trả số tiền 100.000.000 đồng nợ gốc ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà X không yêu cầu tính lãi. Còn bà H thừa nhận còn nợ bà X số tiền 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế gia đình khó khăn nên bà Võ Thị H xin trả nợ mỗi tháng 1.500.000 đồng kể từ tháng 9/2020 cho đến khi hết nợ.

Xét thấy việc vay mượn của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức không trái pháp luật nên được pháp luật bảo vệ. Bà X đã thực hiện đúng nghĩa vụ của bên cho vay nhưng bà H không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ của bên vay như thỏa thuận, vì vậy bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, căn cứ Điều 463, 466 và điều 470 của Bộ luật dân sự, HĐXX chấp nhận yêu khởi kiện của bà Trần Thị X, buộc bà Võ Thị H phải trả cho bà Trần Thị X số tiền 100.000.000 đồng mà bà H đã vay mượn của bà X.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật là (100.000.000đ x 5%) = 5.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, 464, 465, 466 và điều 470 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 147, 227, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X đối với bà Võ Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Tuyên xử:

1. Buộc bà Võ Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị X số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị H phải chịu 5.000.000đ (năm triệu đồng). Hoàn trả cho bà Trần Thị X 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000335 ngày 24/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

3. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 26/9/2020.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ