vanban.org

Bản án 25/2019/QĐXXST-HS — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Tuyên án 29/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh N ph m tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

X ph t: Nguyễn Minh N 09 (Chín) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bị bắt t m giam ngày 13/6/2019. Buộc Nguyễn Minh N phải trả l i cho chị Nguyễn Thị Kim P số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh N ph m tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình s; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình s

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N NH N D N C NG H X H CH NGH V T N M

HUY N CH U THÀNH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH N G NG Bản án số: 25/2019/HSST Ngày 29 - 8 - 2019

NH N D NH

N C C NG H X H CH NGH V T N M

T

N NH N D N HUY N CH U THÀNH, TỈNH N G NG

- Th nh h n H i đồng t sơ th m gồm c

Th m ph n – Ch t a phiên t a Ông Nguyễn Hoàng Thám

C c H i th m nh n d n

Bà Trần Việt Hồng Phượng

Ông Phan Hữu Trí

- Thư

hiên t a: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đ i diện Viện i m sát nh n d n huyện Ch u Th nh, tỉnh An Giang tham gia hiên t a: Bà Đặng Thị Nhị Kiều – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019 t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tiến hành x t x s th m công khai vụ án hình s thụ lý số: 25/2019/HSST ngày 12 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra x t x số: 25/2019/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 8 năm 2019 đối v i bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Minh N, sinh năm: 1997, N i sinh: An Giang.

ĐKHKTT: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

N i cư trú: Không n i cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Phật Giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị B N, sinh năm 1973 (sống).

- Tiền án, tiền s : Không.

Qu trình nh n th n Từ nhỏ sống chung v i mẹ ruột t i ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Bị cáo học đến l p 6 thì nghĩ ở nhà phụ giúp gia đình.

Ngày 18/12/2018, Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định đưa vào c sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành t i c sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang thời h n 03 tháng, đến ngày 18/3/2019 chấp hành xong.

- Bị cáo Nguyễn Minh N bị bắt t m giam từ ngày 13/6/2019, t i Nhà t m giữ -Công an huyện C, tỉnh An Giang cho đến nay.

Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

- Bị hại

Đào Uy P, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

N i cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

- Những người có liên quan đến vụ n

1/- Phù Thị Mỹ L, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

2/- Nguyễn Thị Kim P, 1999 (Vắng mặt)

N i cư trú: Khóm B, phường Bình Đ, thành phố L, An Giang.

3/- Huỳnh Kiều N, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

N i cư trú: Ấp H, TT A, huyện C, tỉnh An Giang.

4/- Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1973 (Có mặt)

N i cư trú: tổ 28, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

- Những người làm chứng

1/- Huỳnh Thị Đ (Vắng mặt)

2/- Trần Công H, sinh năm 2007 (Vắng mặt)

N i cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

3/- Trần Văn Tuyến E, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

N i cư trú: Khóm B, phường Bình Đ, thành phố L, An Giang.

4/- Lê Quy L, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

N i cư trú: Ấp Long H, xã Long G, huyện C, tỉnh An Giang.

5/- Kiều Thị Tuyết V, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

N i cư trú: Ấp A, xã An H, huyện C, tỉnh An Giang.

6/- Đỗ Hoàng P, sinh năm 1974 (Vắng mặt)

N i cư trú: Khóm B, phường Bình Đ, thành phố L, An Giang.

7/- Lê Hồng H, sinh năm 1956 (Vắng mặt)

N i cư trú: Khóm B, phường Bình K, thành phố L, An Giang.

8/- Trần Văn T, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

N i cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang

9/- Nguyễn Thị L sinh năm 1985 (Vắng mặt)

N i cư trú: Khóm B, phường Bình K, thành phố L, tỉnh An Giang.

N DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết trư c đó, Nguyễn Minh N đến nhà anh Đào Uy P (thuộc ấp P , xã B, huyện C, tỉnh An Giang) ch i và sống t i nhà của P. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27/4/2019, N thấy điện tho i di động Vivo 1606 của P trên tủ quần áo nên lấy trộm để vào túi quần của N. N tiếp tục qua nhà bà Huỳnh Thị Đ (bà nội của P, cách nhà P khoảng 30 m t), N thấy điện tho i di động Nokia 1280 của P để trên tủ thờ nên lấy trộm để vào túi quần của N.

Đến 08 giờ cùng ngày, P điều khiển xe mô tô biển số 67B1-668.12 nhãn hiệu: Wave, màu xanh-đen, số máy: HC08E0102530, số khung: RLHHC08012Y102376 chở N đến sân bóng của anh Nguyễn Thành Hiệp t i ấp B, xã Bình H, huyện C, tỉnh An Giang. T i đây, N hỏi mượn xe mô tô của P đi mua điện tho i trả góp thì P đồng ý, giao xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho N. Sau khi mượn xe, N điều khiển đến c a hàng điện tho i “Vu Thịnh”, cầm điện tho i Vivo 1606 cho Huỳnh Kiều N v i giá 1.000.000 đồng. N đến tiệm game bắn cá của anh Lê Quy L t i khóm B, phường Bình Đức, thành phố L, tỉnh An Giang gặp Nguyễn Văn Tuyến E và ch i game bắn cá thua hết 1.000.000 đồng. Lúc này, N điều khiển xe đến tiệm cầm đồ “S ” t i khóm Bình Khánh 1, phường Bình K, thành phố L, tỉnh An Giang, cầm xe mô tô 67B1-668.12 cho Lê Hồng H v i giá 4.000.000 đồng rồi đến tiệm game bắn cá của Nguyễn Tiến Thanh (Lễ) t i khóm Bình T, phường Bình K ch i game. Sau khi thua hết số tiền 4.000.000 đồng, N thoả thuận cầm xe 67B1 - 668.12 cho Thanh giá 5.100.000 đồng, Thanh đưa N 1.100.000 đồng và lấy giấy cầm xe đến tiệm cầm đồ “S ” chuộc xe mang về, còn N tiếp tục ch i game thua hết tiền. Lúc này, Tuyến E gi i thiệu N bán xe mô tô 67B1-668.12 cho Nguyễn Thị Kim P. Phụng đến gặp N, thỏa thuận mua xe giá 7.000.000 đồng thì N đồng ý. Phụng gặp Thanh chuộc xe 5.100.000 đồng và đưa N thêm 1.900.000 đồng, N ch i game bắn cá thua hết tiền. Sau đó, N đến nhà của Tuyến E gặp Phù Thị Mỹ L (vợ của Tuyến E), N đưa giấy cầm điện tho i Vivo 1606 cho L, kêu L đi chuộc điện tho i để s dụng. Đối v i điện tho i di động Nokia 1280, N đã cho Nguyễn Minh T.

Vật chứng thu giữ

- 01 xe mô tô biển số 67B1-668.12 nhãn hiệu: Hon da, lo i: Wave, màu xanh đen, số máy: HC08E0102530, số khung: RLHHC08012Y102376; 01 điện tho i di động hiệu Vivo 1606, màu đen. Đã trao trả cho Đào Uy P là chủ sở hữu.

Ngày 11/6/2019, Nguyễn Minh N bị khởi tố điều tra.

Căn cứ Kết luận định gi số 40/KL.HĐ ngày 07/05/2019 c a H i đồng định gi tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ch u Thành, tỉnh An Giang, kết luận

- 01 xe mô tô biển số 67B1- 668.12 nhãn hiệu: Hon da, lo i: Wave, màu xanh đen, số máy: HC08E0102530, số khung: RLHHC08012Y102376, xe đã qua s dụng, có trị giá là 17.500.000 đồng x 40% = 7.000.000 đồng.

- 01 điện tho i di động hiệu Vivo 1606, màu đen, số IMEI: 869733037304870, máy đã qua s dụng, có trị giá là 2.900.000 đồng x 50% = 1.450.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản định giá là: 8.450.000 đồng. (Bút lục số: 39B)

Căn cứ Kết luận định gi số 41/KL.HĐ ngày 07/05/2019 c a H i đồng định gi tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ch u Thành, tỉnh An Giang, kết luận

- 01 điện tho i di động hiệu Nokia 1280, máy đã qua s dụng, có trị giá là 300.000 đồng x 50% = 150.000 đồng.

- Một sim điện tho i m ng Viettel số 0328.181. 955, đã qua s dụng, có trị giá là 80.000 đồng x 100% = 80.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản định giá là: 230.000 đồng. (Bút lục số: 39A)

Lời khai c a người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ n:

- Đào Uy P: Trình bày phù hợp v i nội dung vụ án đã nêu. Hiện P đã nhận l i tài sản xe mô tô biển số 67B1-668.12, điện tho i di động hiệu Vivo 1606 và số tiền 230.000 đồng do mẹ của N bồi thường (điện tho i di động hiệu Nokia 1280 và sim điện tho i m ng Viettel số 0328.181. 955); yêu cầu x lý hình s đối vối N. (Bút lục số: 126 - 128; 172)

- Huỳnh Kiều N, Trần Văn Tuyến E, Lê Uy L, Kiều Thị Tuyết V, Huỳnh Thị Đ, Đỗ Hoàng P, Trần Văn T, Phù Thị Mỹ L, Trần Công H: Trình bày phù hợp v i nội dung vụ án đã nêu. (Bút lục số: 129-131; 134 - 137; 140 - 143; 146 - 149)

- Lê Hồng H và Nguyễn Thị Kim P: Trình bày phù hợp v i nội dung vụ án đã nêu, khi nhận cầm và mua xe mô tô biển số 67B1-668.12 của N, không biết tài sản do N ph m tội mà có. Khi Phụng biết được đã t nguyện giao nộp c quan Công an, P yêu cầu N trả l i số tiền 7.000.000 đồng. (Bút lục số: 132 - 133; 144 -145)

- Nguyễn Thị B N: N là mẹ ruột của N, không biết N ph m tội, khi biết được N đã thay N bồi thường 02 điện tho i và sim điện tho i cho bị h i Đào Uy P và Huỳnh Kiều N phù hợp v i nội dung vụ án. (Bút lục số 138 - 139)

T i bản cáo tr ng số: 24/CT-VKSCT-HS ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang quyết định truy tố để x t x bị cáo Nguyễn Minh N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định t i điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình s .

T i phiên tòa, vị đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Minh N đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng x t x căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình s . Đề nghị x ph t bị cáo v i mức án từ 06 tháng tù đến 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về tr ch nhiệm d n sự Buộc bị cáo phải trả l i cho chị Nguyễn Thị Kim P số tiền 7.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Đã trả l i cho bị h i xong.

Lời nói sau cùng của bị cáo: T i phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như trên và yêu cầu Hội đồng x t x xem x t x ph t bị cáo v i mức án nhẹ, để bị cáo s m trở về v i gia đình và làm l i cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH C T

N:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng x t x nhận định như sau:

[1] Các quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình s . Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo, bị h i và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu n i về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã th c hiện đều hợp pháp.

[2] T i phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh N khai nhận: Vào ngày 27/4/2019 N hỏi mượn chiếc xe mô tô biển số 67B1-668.12, trị giá 7.000.000 đồng của anh P đi mua điện tho i trả góp thì P đồng ý, giao xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho N. Sau khi mượn được xe, N nảy sinh ý định rồi mang xe đi cầm, sau đó thì N bán xe để lấy tiền tiêu xài và ch i game bắn cá thua hết tiền rồi bỏ trốn.

Lời khai nhận tội của bị cáo trư c phiên tòa hôm nay còn phù hợp v i lời khai của bị h i, phù hợp v i lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khách quan khác có trong hồ s vụ án.

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo và đánh giá toàn diện chứng cứ có trong hồ s vụ án đã có đủ c sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh N đã có hành vi lợi dụng s tin tưởng của bị h i, mà giao xe cho bị cáo s dụng, để bị cáo mang xe đi cầm, sau đó thì bị cáo bán xe để lấy tiền tiêu xài.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định t i điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình s là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

[3] X t thấy, xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, muốn có tiền để tiêu xài và ch i game bắn cá, mà không phải bỏ công sức lao động, đây chính là động c nguyên nhân thúc đ y bị cáo đi vào con đường ph m tội. Việc ph m tội của bị cáo là lợi dụng s tin tưởng của bị h i, để bị cáo mượn tài sản của bị h i rồi chiếm đo t mang đi cầm, bán.

Về nh n th n Vào ngày 18/12/2018, Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định đưa vào c sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành t i c sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang thời h n 03 tháng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tr c tiếp xâm ph m đến quyền sở hữu tài sản của bị h i, làm mất trật t trị an t i địa phư ng, làm hoang mang lo lắng và bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải áp dụng một hình ph t nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định m i đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Tuy nhiên có xem x t các tình tiết giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo. Trong giai đo n điều tra và t i phiên tòa hôm nay, bị cáo thành kh n khai báo nhận tội, thuyết phục gia đình khắc phục hậu quả một phần, ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc thành phần nhân dân lao động, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật còn h n chế. Do đó, căn cứ điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s , giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình ph t khi lượng hình.

Đối với hành vi c a:

- Nguyễn Minh N lấy trộm 02 điện tho i di động Vivo 1606 và Nokia 1280 của Đào Uy P, trị giá tài sản dư i 2.000.000 đồng, không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình s về tội “Trộm cắp tài sản” nên C quan cảnh sát điều tra, Công an huyện C ra Quyết định x ph t vi ph m hành chính đối v i N 1.500.000 đồng là có căn cứ. (Đã nộp ph t xong)

- Lê Hồng H có hành vi cầm xe mô tô biển số: 67B1-668.12 và Nguyễn Thị Kim P có hành vi mua xe mô tô biển số: 67B1-668.12 do Nguyễn Minh N bán. H và P không biết xe do N ph m tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình s đối v i H và P là có căn cứ.

- Huỳnh Kiều N nhận cầm của Nguyễn Minh N điện tho i di động hiệu Vivo 1606, màu đen, Nhi không biết tài sản do N ph m tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình s đối v i Nhi là có căn cứ.

- Nguyễn Tiến T (Lễ) có hành vi nhận cầm xe mô tô biển số: 67B1-668.12 của Nguyễn Minh N. Qua xác minh, Thanh không còn kinh doanh dịch vụ game bắn cá và đã bỏ địa phư ng đi nên C quan điều tra - Công an huyện C không làm việc được, khi nào làm việc được thì xem x t x lý sau.

Về tr ch nhiệm d n sự

- Chị Nguyễn Thị Kim Trình bày t i (Bút lục số: 132 - 133), khi mua xe mô tô biển số: 67B1- 668.12 của N, không biết tài sản do N ph m tội mà có. Khi P biết được đã t nguyện giao nộp c quan Công an, Phụng yêu cầu N trả l i số tiền 7.000.000 đồng. T i phiên tòa N đồng ý trả l i số tiền 7.000.000 đồng cho chị Phụng. Do đó, nghĩ nên chấp nhận và buộc N phải trả l i cho chị Phụng số tiền 7.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp.

- Anh Đào Uy P Trình bày t i (Bút lục số: 126 - 128; 172), anh đã nhận l i tài sản xe mô tô biển số: 67B1-668.12, điện tho i di động hiệu Vivo 1606 và số tiền 230.000 đồng do bà Nguyễn Thị B N là mẹ của N bồi thường (điện tho i di động hiệu Nokia 1280 và sim điện tho i m ng Viettel số 0328.181. 955). Ngoài ra anh không yêu cầu gì khác.

- T i phiên tòa bà Nguyễn Thị B N cho biết: Bà là mẹ ruột của N, không biết N ph m tội, khi biết được bà đã thay N bồi thường 02 điện tho i và sim điện tho i cho anh Đào Uy P và chị Huỳnh Kiều N. Bà không yêu cầu N trả l i tiền cho bà. Nên không đặt ra xem x t.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình s s th m và án phí dân s s th m theo quy định của pháp luật.

Vì c c lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình s .

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh N ph m tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

X ph t: Nguyễn Minh N 09 (Chín) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bị bắt t m giam ngày 13/6/2019.

Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình s .

Buộc Nguyễn Minh N phải trả l i cho chị Nguyễn Thị Kim P số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

Về án phí:

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình s .

Bị cáo Nguyễn Minh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình s s th m và 350.000đ án phí dân s s th m.

Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/8/2019). Những người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đ t hoặc niêm yết bản án.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s , thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân s .

Cỡ chữ