- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HSST Ngày: 24-5-2019 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê ThA Sơn
2. Bà Vũ Thị Hải Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dương Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2019 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn A, sinh ngày: 23/6/1995, tại huyện Nh, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Bản T, xã K, huyện Nh, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn A và bà Tạ Thị C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26/01/2019 đến ngày 28/01/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Dương Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Ông Trần Đình Ch (vắng mặt).
+ Ông Phan Thế M (vắng mặt).
+ Ông Phạm Văn B (vắng mặt).
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đăng Kh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 25/01/2019, tại khu vực đường Chi Lăng thuộc địa bàn thôn Tân Hạ, xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, bị cáo Nguyễn Tuấn A đi xe môtô biển kiểm soát 35FA-7266 chở theo anh Trần Đinh Chđang dừng đỗ ở lề đường, lúc này bị cáo Nguyễn Tuấn A đang mang theo người 01 túi ma túy “đá” được bỏ trong một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng thì bị Tổ công tác Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành kiểm tra. Khi bị yêu cầu kiểm tra thì Nguyễn Tuấn A đã tự lấy trong túi áo khoác bên phải đang mặc trên người ra một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 15 điếu thuốc lá Thăng Long và 01 túi nilon màu trắng bên trong có chất tinh thể màu trắng, giao nộp và khai nhận túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy “đá” do Tuấn A mua về với mục đích sử dụng cho bản thân. Trần Đinh Ch khai là người đi nhờ xe của Tuấn A và không biết việc Tuấn A cất giữ ma túy trong người. Tổ công tác đã niêm phong bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 15 điếu thuốc lá Thăng Long và 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng do Nguyễn Tuấn A giao nộp. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an đã tạm giữ của Nguyễn Tuấn A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xA, bên trong có lắp 02 sim Vietel có các số thuê bao là 0983196302 và 0866595194; 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 xe môtô, màu nâu, nhãn hiệu FERVOR biển kiểm soát 35FA-7266. Sau đó cơ quan Công an đưa Nguyễn Tuấn A cùng vật chứng thu giữ về trụ sở Công an xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Tuấn A và gửi toàn bộ mẫu vật thu giữ ký hiệu M trưng cầu giám định.
Tại bản kết luân giám định số 97/KLGĐ-PC09-MT ngày 28/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: "Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng kí hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,3081 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy, thuộc danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, bên trong có lắp 02 sim cho Nguyễn Tuấn A (do bố đẻ bị cáo nhận thay theo ủy quyền của bị cáo).
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSNDTPTĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 13 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x1,7)cm; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 15 điếu thuốc lá; 01 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong vật chứng ban đầu của Nguyễn Tuấn A; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 97/KLGĐ-PC09-MT, bên trong có 0,2245 gam chất tinh thể màu trắng, ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine được hoàn lại sau khi gửi mẫu đi giám định và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Tuấn A; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo cho rằng bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Văn H xác nhận đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc môtô biển kiểm soát 35FA-7266, màu nâu, đã qua sử dụng, và không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo nhận tội và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, người làm chứng, người chứng kiến đều có lời khai báo xác định được chứng kiến bị cáo bị công an kiểm tra phát hiện đang cất giữ 01 túi nilon chưa chất ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá), diễn biến sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với nội dung bản kết luận giám định số 97/KLGĐ-PC09-MT ngày 28/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 25/01/2019 tại khu vực thôn Tân Hạ, xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã có hành vi cất giữ 0,3081 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi mang chất ma túy trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Khối lượng ma túy Methamphetamine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện giao nộp và khai nhận túi ma túy mua về sử dụng là thuộc trường hợp tự thú; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép và nhân thân của bị cáo thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Anh Dương Văn H chủ sở hữu hợp pháp là chiếc xe mô 35FA-7266 đã cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo sử dụng để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 35FA-7266 cho anh Dương Văn H là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ màu xanh, bên trong có lắp 02 sim Vietel là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo là đúng pháp luật.
Đối với các vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp quản lý gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 15 điếu thuốc lá; 01 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong vật chứng ban đầu của Nguyễn Tuấn A; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 97/KLGĐ-PC09-MT, bên trong có 0,2245 gam chất tinh thể màu trắng, ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine được hoàn lại sau khi gửi mẫu đi giám định và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Tuấn A; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng, trong đó số ma túy là vật cấm lưu hành, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Tuấn A khai mua của một người đàn ông lạ mặt tại khu vực cầu vượt, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được là ai nên tách tài liệu để tiếp tục xác minh là đúng pháp luật.
Anh Dương Văn H cho bị cáo mượn xe mô tô, anh Trần Đinh Ch là người đi cùng bị cáo trong khi bị cáo tàng trữ ma túy. Cả anh H và anh Ch không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên anh Hvà anh Ch không vi phạm pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Tuấn A bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/01/2019.
3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x1,7)cm; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 15 điếu thuốc lá; 01 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong vật chứng ban đầu của Nguyễn Tuấn A;
- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 97/KLGĐ-PC09-MT và các vật chứng bên trong bên trong gồm: 0,2245 gam chất tinh thể màu trắng, ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine được hoàn lại sau khi gửi mẫu đi giám định và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;
- 01 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Tuấn A;
- 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 17/4/2019 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ; - Lưu: HSVA, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Quách Thành Trung |