- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM THỊ NGỌC H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÆNH BÌNH THUAÄN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá: 25/2019/HSST. Ngaøy: 18/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: BÀ VŨ THỊ THANH HÒA.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ÔNG PHAN HỒNG LIÊM
2/ BÀ LÊ THỊ KIỀU THU
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: BÀ LÊ THỊ QUỲNH TRANG– Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ÔNG NGUYỄN NGỌC QUANG – kiểm sát viên.
Ngày 18/4/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2019/HSST ngày 29/3/2019 đối với bị cáo:
PHẠM THỊ NGỌC H (T) – Sinh năm: 1966, tại: Bình Thuận.
Nơi ĐKHKT và nơi thường trú: không có đăng ký HKTT và nới cư trú không ổn định; Chỗ ở trước khi bị bắt: khu phố 05, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Số CMND: không có; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh;Con ông: Phạm Đình Q (chết) và bà: không xác định; Chồng: Dương Trúc P, sinh năm: 1968; Vợ chồng có 05 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày: 03/12/2018; Chuyển sang tạm giam ngày: 12/12/2018; Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
Nguyễn Thanh S, sinh năm: 1984 (vắng mặt). Trú tại: Khu phố 01, phường L, Tp. P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 02/12/2018, do có nhu cầu sử dụng heroin Lê Thanh S (sinh năm 1984, trú tại khu phố 01, phường L, thành phố Ph) đến khu vựa phía sau nhà thờ Lạc Đạo thuộc khu phố 05, phường L, thành phố P để tìm người mua ma túy. Tại đây, S gặp Phạm Thị Ngọc H (sinh năm 1966, chỗ ở khu phố 05, phường L, thành phố P) đang ngồi chơi. S hỏi H mua 01 tép ma túy thì H đồng ý bán nên S đưa H số tiền 140.000 đồng (bao gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng). H nhận số tiền này rồi nói S ngồi đợi. Đến 17 giờ 30 phút hạnh quay lại, vừa giao cho S 01 tép ma túy đựng trong ống nhựa màu trắng dùng để uống nước được hàn kín hai đầu thì bị Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Phan Thiết phối hợp cùng Công an phường L, thành phố P bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
+ Thu giữ trên tay của Lê Thanh S 01 đoạn ống nhựa dùng để uống nước màu trắng, hàn kín hai đầu, kích thước 1,7cm x 0,8cm bên trong đoạn ống nhựa có chứa chất bột màu trắng, dạng nén. S khai nhận gói ma túy nêu trên S mua từ H về để sử dụng. Sau khi thu giữ đã tiến hành niêm phong (ký hiệu M1 khi giám định).
+ Thu giữ từ Phạm Thị Ngọc H số tiền 40.000 đồng (Đây là số tiền mà S đưa cho hạnh 140.000 đồng, H mua ma túy hết 100.000 đồng còn lại 40.000 đồng).
Sau khi bị bắt quả tang vào lúc 19 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H thu giữ tang vật như sau: Thu giữ trong tủ đựng quần áo của Phạm Thị Ngọc H 01 đoạn ống nhựa dùng để uống nước hàn kín hai đầu, màu trắng kích thước khoảng 0,7cm x 0,2cm, bên trong có chứa bột màu trắng, dạng nén. Sau khi thu giữ đã tiến hành niêm phong (ký hiệu M2 khi giám định).
Tại Kết luận giám định số 1117/KL-GĐ-PC09 ngày 07/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận:
-Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,0358 gam là Heroin (tép ma túy thu giữ trên tay của Lê Thanh S);
-Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0341 gam, là Heroin (tép ma túy thu giữ trong tủ quần áo của H).
Trong quá trình điều tra, H khai sau khi nhận lời bán heroin và nhận 140.000 đồng từ Lê Thanh S thì H đi đến tiệm game bắn cá gần đó mua 01 tép heroin với giá 100.000 đồng của một thanh niên (không rõ nhân thân) rồi quay lại giao cho S thì bị bắt quả tang. Đối với tép heroin mà Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ trong tủ quần áo tại nơi H ở khi tiến hành khám xét khẩn cấp thì H khai không biết nguồn gốc, cũng không liên quan đến số heroin này.
* Bản cáo trạng số 20/CT-VKS-PT ngày 12/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, truy tố Phạm Thị Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Phạm Thị Ngọc H, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Thị Ngọc H từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Áp dụng: Điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 40.000 đồng đây là tiền Hạnh bán ma túy mà có.
Tịch thu tiêu hủy hai phong bì niêm phong số 1117/1 và 1117/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận vì đây là vật chứng vụ án nhưng là vật cấm lưu hành.
Bị cáo Phạm Thị Ngọc H không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[
Cơ quan điều tra Công an thàn phố Phan Thiết và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Phạm Thị Ngọc H tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và người làm chứng, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, các vật chứng đã thu giữ và kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu điều tra về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 02/12/2018, tại khu vực phía sau nhà thờ Lạc Đạo thuộc khu phố 05, phường L, thành phố P; Phạm Thị Ngọc H có hành vi bán trái phép 01 tép heroin có khối lượng 0,0358 gam cho con nghiện Lê Thanh S và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H, thu giữ thêm tại vị trí trong hộc tủ của H 01 tép heroin có trọng lượng là 0,0341gam.
Trong quá trình điều tra, H phủ nhận sự liên quan của mình đến tép heroin thu trong tủ nhà H. Tuy nhiên, tại phiên tòa H thừa nhận tép heroin này là của mình. Do đó, đủ căn cứ buộc H phải chịu trách nhiệm hình sự về tép heroin này.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận Phạm Thị Ngọc H đã có hành vi bán phép 0,0358 gam heroin và tàng trữ 0,0341gam heroin cũng nhằm mục đích mua bán.
Hành vi của bị cáo Phạm Thị Ngọc H cho thấy bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, sự phát triển giống nòi của dân tộc và là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, bị cáo cũng nhận thức được heroin là loại ma túy gây nghiện, Nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ … trái phép chất ma túy nhưng bị cáo bất chấp hậu quả pháp lý. Rõ ràng hành vi bán trái phép chất ma túy của Phạm Thị Ngọc H là hành vi cố ý, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, hơn nữa còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Hành vi vừa nên trên của Phạm Thị Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề xuất của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy là hợp lý vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện sự thành khẩn; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
Đối với Lê Thanh S có hành vi mua trái phép 0,0358gam heroin của Phạm Thị Ngọc Hạnh để sử dụng, do lượng ma túy này không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời S cũng chưa bị kết án hay xử lý hành chính về các tội được quy định tại Điều 248; Điều 249, Điều 250, Điều 251 và Điều 252 của Bộ luật hình sự nên không đủ căn cứ xử lý S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy, cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vi phạm của S cho Công an phường L xử lý hành chính theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra vụ án Phạm Thị Ngọc H khai nguồn gốc ma túy đã bán cho S được mua từ một người thanh niên nhưng không rõ nhân thân lai lịch. Do không xác định được nhân thân, địa chỉ của đối tượng này nên không có căn cứ để xử lý.
Việc xử lý như trên là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên không đặt ra để xử lý nữa.
Vật chứng của vụ ánï:
- Số tiền 40.000 đồng, xác định được đây là tiền H bán ma túy cho Lê Thanh S mà có, tiền do phạm tội mà có nghĩ nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(Toàn bộ số tiền đã chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/3/2019).
- Hai phong bì niêm phong số 1117/1 và 1117/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận. Đây là vật chứng của vụ án nhưng là vật cấm lưu hành, nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.
(Hiện toàn bộ số tang vật trên đang tạm gửi tại Chi cục thi hành án dân sự Tp. Phan Thiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 73 lập ngày 28/3/2019).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH
Tuyên bố: Phạm Thị Ngọc H, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự .
XÖÛ PHAÏT: Phạm Thị Ngọc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 03/12/2018.
ÁP DỤNG: Điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 40.000 đồng, xác định được đây là tiền H bán ma túy cho Lê Thanh S mà có, tiền do phạm tội mà có.
(Toàn bộ số tiền đã chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/3/2019).
Tịch thu tiêu hủy hai phong bì niêm phong số 1117/1 và 1117/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận. Đây là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành.
(Hiện toàn bộ số tang vật trên đang tạm gửi tại Chi cục thi hành án dân sự Tp. Phan Thiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 73 lập ngày 28/3/2019).
AÙP DUÏNG: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phạm Thị Ngọc H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/4/2019). Nôi nhaän:
| - Bị cáoï; - VKSND Tp. Phan Thiết; -VKSND tỉnh Bình Thuận;; -CQ-CSĐT Công an Tp. Phan Thiết; -Cơ quan Thi hành án hình sự CA Phan Thiết; -Nhà tạm giữ CA Tp. Phan Thiết; -Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; - Löu hoà sô. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn - Chuû toaï phieân toaø VŨ THỊ THANH HÒA |