- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn Đ, thụ lý số 28/2019/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2019 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HSST Ngày 24 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Long Các hội thẩm nhân dân: Bà:
Hoàng Thị Kim Quy Ông:
Giàng A Chỉnh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên Thư ký TAND thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Đào Mạnh Hân
Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019 mở phiên tòa công khai sơ thẩm tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để xét xử vụ án hình sự thụ lý số 28/2019/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HS ngày 11/9/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn Đ; Sinh năm: 1974 tại tỉnh Nam Định; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Xóm 11, xã Giao Hải, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định; chỗ ở trước khi bị bắt: tổ 3, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn S – sinh năm 1944 và bà Phan Thị T – sinh năm 1947 (hiện đều cư trú tại Xóm 11, xã Giao Hải, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định); Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ là Nguyễn Thị G – sinh năm 1978 và có 03 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: xấu (năm 2014 bị Toà án nhân dân Thành phố Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” ngày 23/3/2016 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, hiện đã được xoá án tích; Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/6/2019 cho đến ngày 14/6/2019 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 10 phút ngày 05/6/2019 Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ 5, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu. Phát hiện một người đàn ông đi bộ một mình trong ngõ 76, đường Trần Hưng Đạo có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Lê văn Đ (sinh năm 1974, trú tại tổ 3, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu) và tự giác giao nộp 01 gói heroine gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng trong tay trái, Độ khai đó là heroine. Tổ công tác lập biên bản đưa Đ về trụ sở làm rõ.
Tại cơ quan điều tra Đ khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 05/6/2019 Đ đang ở khu vực chợ trung tâm (phía mặt đường Trần Hưng Đạo) thì có T (bạn Đ, không rõ họ và nơi cư trú) nhờ Đ mua 300.000VNĐ heroine về để cùng nhau sử dụng ở khu vực đền thờ vua Lê Lợi, T đưa cho Đ 03 tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ. Đ cầm tiền và đến nhà M (còn gọi là M chột, có bố tên là N, nhà ở khu vực gần sân vân động tỉnh Lai Châu) và mua của M 01 gói heroine gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng. Mua được heroine Đ mang về chỗ T hẹn thì bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Cùng ngày 05/6/2019 Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, cân tịnh trọng lượng (BL41-42); Chất bột khô vòn cục màu trắng do Đ giao nộp sau khi đã loại bỏ lớp giấy gói có khối lượng là 0,14gam Hội đồng nhất trí lấy toàn bộ và gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng gửi giám định không hoàn lại; Còn lại 01 mảnh giấy màu trắng được niêm phong trong một phong bì công văn của Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
Căn cứ lời khai của Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và khám xét khẩn cấp nhà và nơi ở của Trần Anh M (sinh năm 1976; trú tại tổ 7, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu). Quá trình khám xét M đã tự giác giao nộp 01 gói heroine có khối lượng 0,88gam, M tàng trữ để sử dụng cho nhu cầu của bản thân. Ngoài ra M còn khai có biết Đ, tuy nhiên không bán ma tuý cho Đ bao giờ. Ngoài lời khai của Đ, không có tài liệu nào khác chứng minh việc Đ mua ma tuý của M nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý M về hành vi “mua bán trái phép chất ma tuý” mà tách ra để xử lý M về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Đối với T là người nhờ Đ đi mua heroine về cùng nhau sử dụng, Đ không biết họ và nơi cư trú vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Kết luận giám định số 267/GĐ-KTHS ngày 08/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu (BL45) đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn Đ gửi giám định là ma tuý, loại heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 25/CT-VKSTP ngày 13/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (BL96-99) đã truy tố Lê Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo nghiện, để thoả mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố tình thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Điểm c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo từ 12 đến 16 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án, khấu trừ thời hạn tạm giữ cho bị cáo; Miễn hình phạt bổ sung; Vật chứng xử lý theo quy định; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, của Điều tra viên; Của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: 10 giờ 10 phút ngày 05/6/2019 tại ngõ 76, đường Trần Hưng Đạo, tổ 5, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu; Lê Văn Đ đã có hành vi tàng trữ 0,14gam heroine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho nhu cầu của bản thân, thì bị kiểm tra phát hiện bắt giữ. Bị cáo khai số heroine bị thu giữ là do T nhờ bị cáo đi mua về cùng nhau sử dụng với giá 300.000VNĐ, bị cáo không biết họ và nơi cư trú của T nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 0,14gam heroine mà bị cáo giao nộp là hoàn toàn phù hợp.
Điều 249/BLHS quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) … Heroine .. có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.
…
Bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên để sử dụng cho nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về ma túy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự an ninh trong quần chúng nhân dân.
Nhân thân bị cáo: Bị cáo sinh ra tại tỉnh Nam Định, được đi học hết lớp 8/12, ở nhà lao động, năm 1995 xây dựng gia đình, năm 2010 cùng gia đình lên sinh sống và làm ăn tại tổ 3, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu. Có nhân thân xấu thể hiện ở việc năm 2014 bị Toà án nhân dân thành phố Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu của bản thân; Gia đình bị cáo có bố là Lê Văn S được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và mẹ Phan Thị T được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất vì đã có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS đối với bị cáo; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào;
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cho gia đình.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249/BLHS quy định: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tuy nhiên bị cáo đi làm thuê không có công việc ổn định, không có tài sản riêng, nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
0,14gam heroine đã gửi đi giám định không hoàn lại nên không xem xét.
01 mảnh giấy màu trắng hết giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47/BLHS; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
[1] Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
[2] Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù, được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ, còn phải thi hành tiếp 14 tháng 21 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.
[3] Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
[4] Tịch thu: 01 mảnh giấy màu trắng để tiêu huỷ.
Vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu. Tình trạng vật chứng như Biên bản giao giữa Công an và Chi cục THA dân sự thành phố Lai Châu hồi 14 giờ 30 phút ngày 15/8/2019.
[5] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND thành phố Lai Châu; - Chi cục THADS thành phố; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Đức Long |