- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2019/TLST - HS ngày 25/4/2019 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! HUYỆN!B! TỈNH!HÀ!NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HSST Ngày: 15/5/2019 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!B,!TỈNH!HÀ!NAM!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Trần Ngọc Sơn và bà Lê Thị Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Như Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/5/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2019/TLST - HS ngày 25/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST - HS ngày 03/5/2019 đối với bị cáo:
Trần!Đăng!A, sinh năm 1977; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đội x, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Đăng T và bà Trần Thị C; có vợ và 01 con sinh năm 2001. Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2007/HSST ngày 09/10/2007, TAND huyện B xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; hình phạt bổ sung số tiền 2.000.000 đồng, án phí 50.000 đồng; ngày 28/11/2009, chấp hành xong án phạt tù nhưng đến ngày 16/4/2019 mới chấp hành xong tiền án phí và hình phạt bổ sung. Tiền sự: Không. Đặc điểm nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 253/2013/HSPT ngày 15/11/2013, TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; ngày 27/11/2016, A chấp hành xong các quyết định của bản án. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/3/2019, đến ngày 14/3/2019 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. (Có mặt)!
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 08/3/2019, tại nhà anh Trần Văn Đ, sinh năm 1966, ở thôn x, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; bị cáo Trần Đăng A nhờ anh Đỗ Quốc D, sinh năm 1967, trú tại Đội x, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam dùng xe mô tô chở xuống Nam Định thì D đồng ý. Sau đó, D chở A đi đến đoạn đường gần ga Nam Định thuộc địa bàn thành phố N thì A xuống xe và bảo D chờ. A đi bộ khoảng 700 - 800m thì thấy một nam thanh niên, có biểu hiện giống người nghiện ma túy đang đứng một mình bên lề đường. A hỏi “Có"Heroine"bán"không?” thì người này nhìn A rồi nói “Có,"đưa"tiền"đây”. A lấy trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng đưa cho người thanh niên và nhận lại 01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. A biết đó là gói ma túy nên cầm bỏ vào túi áo khoác phía trong bên phải đang mặc rồi quay lại bảo D chở về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày khi anh D chở A đến đoạn đường bê tông ngã ba chợ V thuộc địa bàn xóm T, thôn x, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam thì bị Tổ công tác Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã V tuần tra, phát hiện có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an đã phát hiện, thu giữ tại túi áo khoác phía trong bên phải A đang mặc 01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. A khai nhận đó là heroine của A vừa mua, cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa A về trụ sở UBND xã V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng là 01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng mặt bên trong màu vàng, chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Lục đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Trần Đăng A tại Đội x, xã N, huyện B nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 46/PC09-MT ngày 12/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,328g (Không"phảy" ba"trăm"hai"mươi"tám"gam) loại: Heroine”.
Tại Cáo trạng số 29/CT – VKS ngày 24/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị can Trần Đăng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Trần Đăng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo A từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số heroine còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo A đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất heroine như nội dung vụ án đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người khác không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] - Về tội danh: Hành vi tàng trữ 0,328g (Không"phảy"ba"trăm"hai"mươi" tám"gam) chất heroine của bị cáo Trần Đăng A bị lực lượng Công an huyện B, tỉnh Hà Nam bắt quả tang vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 08/3/2019, tại đoạn đường bê tông ngã ba chợ V thuộc địa bàn xóm T, thôn x, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Bố đẻ bị cáo được tặng thưởng huân chương” theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phải chịu tình tiết “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không sửa chữa, vẫn nghiện ma túy do vậy Hội đồng xét xử thấy phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến hoàn cảnh gia đình và nhân thân của bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét tại biên bản xác minh tài sản đã xác định bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng của vụ án: Xét số heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
[6] Tình tiết khác: Về nguồn gốc số heroine và đối tượng đã bán heroine cho A, tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ để xác định để xử lý.
Đối với anh Đỗ Quốc D là người chở A bằng xe mô tô đến thành phố N, tỉnh Nam Định nhưng không biết mục đích A đi mua và cất giữ gói heroine nên không có căn cứ để xử lý đối với D.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Đăng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2.!Xử phạt bị cáo Trần Đăng A 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (08/3/2019).
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số heroine còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 46/PC09-MT của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Đăng A phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai; báo cho bị cáo A biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:
| - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện B; - Công an huyện B; - Nhà tạm giữ Công an huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã N, huyện B; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ và văn phòng. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà !!!!!!!!!!!!!!!Đặng!Trần!Anh!Dũng! (Đã!ký) |