- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chảo Vản C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chảo Vản C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HSST Ngày 30/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Đức Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Tẩn A Liều.
2. Bà Trần Thị Trúc.
-Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2019/TLST- HS, ngày 14 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXXST- HS ngày 18/5/2019 đối với bị cáo:
Chảo Vản C (tên gọi khác: Không) - sinh năm 1960 (không xác định được ngày, tháng sinh). Sinh tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Chảo Phù H (đã chết) và bà Chảo San M (đã chết)
Vợ: Phàn Lở M - năm sinh 1967. Trú tại: Thôn T, xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo chưa có án tích, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2019. Hiện tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên toà
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Họa T Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau: Khoảng 08 giờ ngày 22/4/2019, Chảo Vản C mang theo 01 (một) chiếc ví giả da màu đen, bên trong có 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B1 - 379.36 đi đến thôn T, xã A, huyện B mục đích sang Trung Quốc mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Chảo Vản C dựng xe ở ven đường và đi đò của một người đàn ông không quen biết sang bờ sông Hồng phía Trung Quốc rồi mua của một người phụ nữ không quen biết 01 (một) gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng với giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Trong khi đang đợi đò thì Chảo Vản C nhặt một mảnh nilon màu vàng gói bên ngoài gói nilon màu trắng có chứa ma túy và cất vào ví rồi cho vào túi quần phía sau bên phải đang mặc. Sau đó Chảo Vản C đi đò về Việt Nam và trả cho người lái đò số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi được khoảng 50 mét thì bị tổ công tác Đồn biên phòng A thấy nghi vấn, nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Chảo Vản C đã tự giác lấy từ túi quần phía sau bên phải đang mặc ra 01 (một) chiếc ví giả da màu đen, bên trong cất giấu 01 (một) gói nhỏ được gói bằng nilon màu vàng, trong là lớp nilon màu trắng chứa chất bột khô màu trắng, vón cục (Chảo Vản C khai nhận là Hêrôin mua về để sử dụng), ngoài ra tổ công tác của Đồn biên phòng A còn thu giữ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 24B1 – 379.36, tiền Việt Nam: 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Ngày 22/4/2019 Đồn biên phòng A đã ra Quyết định trưng cầu giám định về chất ma túy số 04 đối với số vật chứng đã thu giữ của Chảo Vản C.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 22/4/2019 giữa Đồn biên phòng A với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã xác định: 01 (một) gói nilon màu vàng, bên trong là lớp nilon màu trắng có chứa chất bột khô màu trắng, vón cục thu giữ của Chảo Vản C ngày 22/4/2019 có khối lượng là 0,52 (không phẩy năm mươi hai) gam. Trích mẫu 0,1 (không phẩy một) gam để tiến hành giám định, còn lại 0,42 gam (không phẩy bốn mươi hai) gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.
Tại bản kết luận giám định số 117/GĐMT ngày 23/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,52 (không phẩy năm mươi hai) gam chất bột khô màu trắng, vón cục thu giữ của Chảo Vản C ngày 22/4/2019 do Đồn biên phòng A gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Đối với người phụ nữ người Trung Quốc Chảo Vản C khai đã bán ma túy cho bị cáo. Qua điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, nên không xử lý được.
Về hành vi xuất nhập cảnh trái phép của Chảo Vản C vào ngày 22/4/2019. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.
Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Chảo Vản C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Chảo Vản C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Vản C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: Áp dung điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 0,42 gam Hê rô in được tái niêm phong trong bì thư.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX biển kiểm soát 24B1 – 379.36 đã thu giữ của Chảo Vản C. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ chiếc xe mô tô trên là của Chảo Tả M, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai. Chảo Tả M không biết Chảo Vản C dùng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (một) chiếc ví giả da màu đen bị cáo dùng vào việc cất giấu ma túy, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng đã tạm giữ của Chảo Vản C không phải là vật chứng của vụ án nhưng xét thấy cần phải tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
- Ý kiến của người bào chữa: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ cho rằng: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Chảo Vản C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Vản C mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 năm tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Chảo Vản C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố. Lời khai của bị cáo C tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận, bị cáo Chảo Vản C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự mua 0,52 gam Hê rô in với mục đích để sử dụng đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cao C đã thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự, trị an ở địa phương, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe, suy thoái giống nòi, là mầm mống dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, góp phần đẩy lùi và loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Cần phải đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật và quyết định mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chảo Vản C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo C là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có lợi nhuận, không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng gồm:
- 0,52 gam Hê rô in thu giữ của bị cáo, trích mẫu 0,1 gam giám định không hoàn lại, còn 0,42 gam Hê rô in được tái niêm phong trong bì thư là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc ví giả da màu đen bị cáo dùng vào việc cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng đã tạm giữ của Chảo Vản C là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo không liên quan đến vụ án, nhưng xét thấy cần phải tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX biển kiểm soát 24B1 – 379.36 đã thu giữ của Chảo Vản C. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ chiếc xe mô tô trên là của Chảo Tả M, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã A L, huyện B, tỉnh Lào Cai. Chảo Tả M không biết Chảo Vản C dùng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo, người bào chữa không có khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Chảo Vản C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chảo Vản C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Chảo Vản C 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 22/4/2019.
3. Xử lý vật chứng :
- Tịch thu tiêu huỷ : 0,42 (không phẩy bốn mươi hai) gam Hêrôin được tái niêm phong trong bì thư, trên một mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ án Chảo Vản C có hành vi phạm tội về ma tuý. Phát hiện (thu giữ) ngày 22 tháng 4 năm 2019 tại khu vực tuần tra biên giới thuộc thôn T, xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai”. Tại các mép dán của bì thư có chữ ký của hai bên giao nhận và hình dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc ví giả da màu đen thu giữ của bị cáo Chảo Vản C.
- Tạm giữ số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng của bị cáo Chảo Vản Chiêu để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Chảo Vản C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh;
- VKSND huyện;
(đã ký)
- Bị cáo;
- Phòng hồ sơ NV Công an tỉnh;
- CCTHADS huyện;
- CQCSĐT Công an huyện;
Ngô Đức Quang
- CQTHAHS Công an huyên;
- Sở Tư pháp tỉnh Lào cai;
- Lưu HS-THS-THAHS (5); CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TÒA PHIÊN TOÀ Tẩn A Liều
Trần Thị Trúc
Ngô Đức Quang
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Bị cáo; - Phòng hồ sơ NV Công an tỉnh; - CCTHADS huyện; - CQCSĐT Công an huyện; - CQTHAHS Công an huyên; - Sở Tư pháp tỉnh Lào cai; - Lưu HS-THS-THAHS (5); | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Đức Quang |